Các giá trị văn hóa, sự phát triển và việc đổi mới kỹ thuật hành chính

(www.vanthuluutru.com) 1. Khi nói đến việc cải cách nền hành chính quốc gia, một cách rất tự nhiên, chúng ta sẽ phải trả lời câu hỏi: “có thể thiếp thu được những gì từ kinh nghiệm của các quốc gia khác để đổi mới kỹ thuật hành chính?”. bởi vì, nếu không tiếp thu những kinh nghiệm tiên tiến của các nước khác, chúng ta sẽ khó có thể vượt lên nhanh chóng để đổi mới nền hành chính quốc gia.

Nhưng cũng rất tự nhiên, chúng ta không thể áp dụng vào nước ta mọi mô thức quản lý hành chính của các nước khác mà không có một sự lựa chọn nào. Muốn du nhập các mô thức quản lý mới cần phải dựa trên những điều kiện nhất định. Một trong những điều kiện quan trọng nhất đó là sự tương đồng giữa các đặc trưng văn hoá truyền thống với các yếu tố mới được du nhập trong quá trình phát triển của bộ máy quản lý nhà nước.
Lịch sử phát triển của nền hành chính nhiều nước trên thế giới, kể cả những nước có nền kinh tế công nghiệp phát triển cao như Nhật, Đức, Cộng hoà Triều Tiên v.v.. cũng  không ra khỏi quy luật trên.
Cần nhấn mạnh ở đây rằng, nền văn hoá của bất cứ dân tộc nào cũng đều có tính đặc thù riêng và đều chứa đựng trong lòng nó những giá trị truyền thống có cội nguồn  lịch sử sâu xa. Khi lựa chọn chiến lược để phát triển đất nước cũng như khi tìm cách huy động và sử dụng có hiệu quả tiềm lực quốc gia phục vụ cho mục tiêu phát triển, chính phủ các nước đều rất chú ý đến đặc điểm văn hoá của đất nước mình. Sự phát triển phù hợp với yêu cầu mở rộng và nâng cao các giá trị của văn hoá dân tộc.
Tất nhiên, cùng với sự phát triển, các giá trị văn hoá cũng biến đổi. Nhiều yếu tố văn hoá mới dần dần được bổ sung vào văn hoá truyền thống và tạo nên những giá trị văn hoá mới. Vấn đề là ở chỗ văn hoá và các giá trị của nó biến đổi theo nguyên tắc nào? Bằng con đường nào cái mới có thể du nhập vào một dân tộc mà không gây ra những phản ứng từ phía nền văn hoá truyền thống? điều này có ý nghĩa hế sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay khi chúng ta đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới nền hành chính Quốc gia và cần thiết phải tiếp thu kinh nghiệm của nhiều nước tiên tiến. Không làm sáng tỏ được điều đó chúng ta chắc chắn sẽ gặp khó khăn khi tiếp thu kinh nghiệm của nước ngoài nhằm đổi mới một số quy trình quản lý hành chính trong thời kỳ chuyển sang cơ chế thị trường. Dưới đây xin nêu một vài ví dụ để chứng minh cho nhận định đó. Chẳng hạn, chúng ta đều biết rằng làng Việt xưa nơi nào cũng có hương ước, trong đó quy định các tập tục, tín ngưỡng, an ninh, trật tự v.v.. của làng mà dân trong làng phải tuân theo nghiêm ngặt. Điều đó đã tạo ra cái gọi là “lệ làng”1. “Lệ làng” bền vững đến nỗi phép vua cũng phải thua. Làng Việt Nam trong suốt chiều dài của lịch sử chế độ phong kiến là nơi có một thiết chế rất chặt chẽ, dù rằng chồng xếp trong đó nhiều mô thức quản lý và điều hành khác nhau2. Quyền tự trị làng xã tồn tại nhiều năm phù hợp với triết lý hành chính thời quân chủ và với sự hình thành các làng xã cổ truyền, trong đó mối liên hệ gia đình và dòng họ rất mật thiết. Cư dân nông nghiệp Việt Nam từ lâu đã có kinh nghiệm rằng quyền hành ở các cấp bậc cao xa không mấy ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của họ.
Ảnh hưởng hàng này đến đời sống của mỗi người dân chính là các bậc khoa bảng túc nho và các bậc lão nông tri là những người đứng đầu làng xã có uy tín. Điều này cho phép, hay nói đúng hơn là đặt ra cơ sở thực tế làm cho các luật lệ, thủ tục của Nhà nước trung ương khó đi sâu vào mọi ngõ ngách của đời sống làng xã. Luật nước trong nhiều thời kỳ trước đây chỉ quy định những  nguyên tắc lớn, những yêu cầu chính, nhằm đảm bảo cho các làng xã thực hiện được nghĩa vụ của mình đối với trung ương. Quản lý cư dân và những vấn đề khác trong làng xã là việc của địa phương. Qua hàng ngàn năm tồn tại và được củng cố, tập tục đó dần dần đã ăn sâu vào tiềm thức của các cộng đồng cư dân sống ở nông thôn Việt Nam. Khi mạnh lên nó thành cục bộ, khi yếu, nó tồn tại xen kẽ trong việc thực hiện cá quy định của Nhà nước trung ương đặt ra. Các làng xã khi có điều kiện đã biến đổi các quy định chung sao cho thuận lợi và có lợi nhất cho mình. còn trung ương dần dần cũng có thói quen không truyền đạt đến nơi đến chốn các thể lệ cho mọi người dân. Điều quan trọng là không ai phản đối cả và quyền lợi của các quan chức trong bộ máy cai trị không bị đe dọạ.
Một điều nữa cũng rất đáng quan tâm, đó là từ xưa đến nay, do đặc điểm nói trên, các địa phương đã có thói quen được trung ương trao cho thẩm quyền rất lớn tự giải quyết các công việc nội bộ của mình, tự quản lý địa phương mình. Người dân làng xã có thói quen tự bàn bạc, phân chia nhau trách nhiệm để thực hiện chúng. Các thủ tục hành chính nhiều khi rất ước lệ. Người ta làm việc theo tâm, theo sự tự nguyện là chính. Các quy trình kỹ thuật trong quản lý khi đó không có mấy ý nghĩa và không mấy ai quan tâm cải tiến.
Những đặc điểm nói trên đây có mặt tốt của nó như chúng ta vẫn thấy, nhưng đó cũng là nguồn gốc của bệnh quan liêu và bảo thủ trong quản lý hành chính ở địa phương. Nhiều hương chức làng xã khi có quyền hành lớn đã lợi dụng để ức hiếp dân, trở thành một tầng lớp dễ tham nhũng và cục bộ, không coi trọng phép nước, thậm chí sẵn sàng vượt qua phép nước.
Từ khi người Pháp sang và thống trị được việt Nam vào nữa cuối thể kỷ trước, ảnh hưởng của nền hành chính Pháp bắt đầu du nhập vào Việt Nam. Tuy vậy, các thể chế hành chính  của thời phong kiến, trước đó vẫn tồn tại với nhiều mức độ khác nhau cho đến trước năm 1945
Suốt gần 100 năm thời thuộc Pháp tên gọi các cơ cấu hành chính làng xã có khác nhau, nhưng xét trên tổng thể đều mang bản chất như nhau. Người Pháp đã du nhập cách thức tổ chức nền hành chính mới vào Việt Nam, lấy bầu cử làm nền để chỉ định các chức dịch làng xã nhằm nắm quyền cai quản nông thôn mà họ biết rất can hệ đến nền thống trị của họ3. Nhưng trên thực tế, những thể thức này đã không dễ dàng phát huy tác dụng. Ở các làng xã Việt Nam cổ truyền thời thuộc Pháp, cho đến trước Cách mạng tháng Tám 1945, đã có 2 kiểu điều hành: một kiểu mang tính hành chính quan phương do thể thức hành chính mới tạo nên qua bầu cử theo ý muốn của nhà cầm quyền thuộc địa. Một kiểu cổ truyền, tức là vẫn theo các bô lão, thân hào luôn luôn được dân vị nể, tôn trọng, hỏi ý kiến. đó chính là một thứ lưỡng chế hành chính mà thực tế cho thấy đã cùng tác động vào sự vận hành của bộ máy cai quản làng xã Việt Nam cổ truyền nhiều thập kỷ. Các quan niệm truyền thống về quyền lợi cộng đồng, về lệ làng, phép nước…, ở những mức độ khác nhau, đã ngăn cản chính quyền thực dân thi hành chính sách thống trị của mình ở nông thôn Việt Nam.
Ở miền Nam, từ sau năm 1954, người Mỹ thay chân người Pháp cũng tìm nhiều biện pháp, thay đổi kiểu điều hành, hy vọng nắm nông thôn, nhưng cũng thất bại. Một lề lối quản lý mới quả nhiên không phải luôn luôn được chấp nhận với mọi điều kiện. Càng không thể áp đặt nó thành công mà chỉ bằng ý muốn của người cầm quyền.
Nếu chúng ta biết rằng điều vừa nói trên không chỉ xẩy ra ở Việt Nam mà còn thấy ở nhiều nước khác, thì có thể đi đến một nhận xét tổng quát là: mỗi xã hội, mỗi xứ sở đều có những con đường riêng của mình khi tiếp nhận cái mới từ ngoài vào. Con đường đó mang đặc trưng văn hoá của mỗi dân tộc có từ lâu đời. Nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cái mới du nhập, nhưng cũng có thể ngăn cản cái mới. Du nhập kỹ thuật mới nhằm cải cách nền hành chính được xem như một bộ phận của văn hoá, không ra khỏi quy luật đó. Sự chuyển đổi các giá trị văn hoá đòi hỏi phải có sự tương đồng và phải được thừa nhận theo truyền thống của mỗi dân tộc.
2. Từ những điều vừa nói trên, mỗi câu hỏi khác cũng được đặt ra là: du nhập các yếu tố mới vào nền Hành chính Quốc gia như thế nào để chúng có thể hội nhập được với các giá trị của nền văn hoá truyền thống?
Tất nhiên, cải cách nền hành chính Quốc gia là để khắc phục những khó khăn mới nẩy sinh trong thời kỳ chuyển đổi cơ chế quản lý. Vả chăng, muốn hoà hợp với thế giới bên ngoài chúng ta cũng không thể giữ mãi những lề lối quản lý cũ đã tỏ ra lạc hậu, bất cập.
Khi tìm câu trả lời cho vấn đề được đặt ra trên đây, cần thiết phải chú ý rằng do đặc điểm của truyền thống văn hoá, có những thủ tục hành chính mới, những kỹ thuật điều hành mà khi đưa vào Việt Nam sẽ được tiếp nhận dễ dàng và phát huy tác dụng. Nhưng cũng sẽ có những loại kỹ thuật, những thủ tục không được chấp nhận, thậm chí có thể gặp những phản ứng gay gắt. Ví dụ, chế độ trả lương theo công việc, theo cấp bậc, việc áp dụng các phương tiện kỹ thuật để kiểm tra trình độ cán bộ, chế độ tuyển dụng nhân công, chế độ bổ nhiệm cán bộ theo chuyên môn và trình độ được đào tạo v.v.. đều đã từng là những điều được bàn bạc từ lâu, được nhiều nhà lãnh đạo rất tán thành và mong muốn thực hiện, nhưng thực tế cho thấy luôn luôn gặp nhiều trở lực khi thực hiện. Truyền thống “sống lâu lên lão làng” vẫn ngự trị trong nhiều địa phương, nhiều ngành, nhiều cấp, đôi khi cả trong khoa học. Chế độ “tiền lương phải cân xứng với việc làm”, “căn cứ vào công việc mà bố trí cán bộ đúng năng lực” v.v… chỉ có thể phát huy tác dụng khi sự phát triển kinh tế của đất nước tương xứng, khi cấp bậc xã hội không gắn liền vô điều kiện với cá nhân.
Để vượt qua trở ngại, cần phải nghiên cứu hệ thống các giá trị văn hoá và yêu cầu của sự phát triển, từ đó xác lập cơ sở cho việc lựa chọn những thủ tục điều hành thích hợp.
Dĩ nhiên, hệ thống các giá trị văn hoá không phải là một cái gì nhất thành bất biến, không thay đổi. Do nhiều tác động khác nhau các giá trị văn hoá đã và đang không ngừng được mở rộng, bổ sung thêm những giá trị mới4.
Nhiều nhà nghiên cứu đã có lý khi phân biệt các yếu tố khác nhau trong mỗi hệ thống giá trị văn hoá. Ba yếu tố nổi bật tạo thành ba loại giá trị khác nhau thường thấy trong quản lý hành chính là: Yếu tố chính thức, yếu tố phi chính thức, và yếu tố kỹ thuật. Các yếu tố nổi bật tạo thành ba loại giá trị khác nhau thường thấy trong quản lý hành chính là: yếu tố chính thức, yếu tố phi chính thức, và yếu tố kỹ thuật. Các yếu tố này tạo thành những tác phong khác nhau trong quá trình quản lý và có những tác động khác nhau đến sự phát triển của nền hành chính nói chung. Chúng thường tạo nên những khuynh hướng khác nhau của quá trình tiếp thu cái mới ở từng lĩnh vực, kể cả trong việc xây dựng các mô thức quản lý Nhà nước.
Các công chức hành chính của ta do chịu ảnh hưởng của nền sản xuất nhỏ lâu đời, thường ít chuộng tác phong chính thức. Theo tác phong chính thức, người ta cần có cách làm việc dựa trên nguyên tắc huấn thị, nhắc nhở, đòi hỏi trả lời rõ ràng khi truyền đạt. Điều này được coi như hiển nhiên, không bàn cãi.
Tác phong chính thức cho phép tạo dựng một mối quan hệ chuẩn mực trong hoạt động hành chính. Nó là một tiêu chí quan trọng để đánh giá sự phát triển của nền hành chính công quyền trên những bình diện chủ yếu nhất. Một nền hành chính thiếu chuẩn mực là nền hành chính mà các quan hệ chính thức không rõ ràng, không được coi trọng đúng mức. Trong nền hành chính đó các thủ túc giải quyết công việc thường được điều chỉnh một cách tuỳ tiện, thiếu luật lệ quy ước. Nền hành chính như vậy rất khó đạt tới những yêu cầu của việc xây dựng một nhà nước pháp quyền tiên tiến và hiện đại.
Nhưng tác phong chính thức lại có mặt trái của nó là những con người cụ thể có khi thiếu sự mềm dẻo, hoặc trở nên máy móc, cứng nhắc. Những người nặng về tác phong chính thức vì thích quyền hành nên khó chấp nhận sự đổi mới khi quyền hành bị vi phạm. Họ thường xuyên xem nhẹ những cải tiến nhằm hình thành các quy tắc mới trong quản lý. Từ đó, trong công cuộc cải cách hành chính hiện nay chúng ta sẽ phải đầu tranh nhiều với thái độ cứng nhắc để tạo điều kiện cho những kỹ thuật điều hành mới được du nhập dễ dàng.
Tác phong phi chính thức được hình thành theo con đường kinh nghiệm, trực quan là chính. Nó không cứng rằng, máy móc như tác phong chính thức, không được ghi trên luật lệ, giấy tờ. Nó phản ánh tình cảm, mong muốn của con người đối với công việc. Đối với những người thích làm việc theo tác phong phi chính thức, các thủ tục và kỹ thuật quản lý đúng bài bản thường không được họ đánh giá cao. Luật lệ không phải là một cứu cách cơ bản đối với họ. Người ta rất khó đưa ra những quy tắc chung để học tập trong trường hợp này, các công chức chịu nhiều ảnh hưởng của lề lối làm việc cũ thường chuộng tác phong này. Trên một chừng mực nhất định, tác phong phi chính thức phù hợp với bản tính của người Việt Nam có truyền thống là cư dân nông nghiệp trồng lúa nước.
Mặt trái của tác phong phi chính thức là ở chỗ nó dễ dẫn người ta đến tính tự do, vô nguyên tắc, đồng thời hay gây ra phản ứng khi bị vi phạm.
Yếu tố kỹ thuật là yếu tố mà giá trị của nó thường dễ xác định và có thể chuyển giao bằng hình thức học tập khoa học. Nó thường được nhận thức và nâng cao cùng với những phương tiện cần thiết, có ý thức và theo những quy trình cụ thể. Giá trị của kỹ thuật được mở rộng không ngừng trong quá trình vận dụng vào đời sống để giải quyết các nhiệm vụ cụ thể. Trong giao lưu văn hoá và phát triển, kỹ thuật đóng một vai trò rất quan trọng. Kỹ thuật mới có khả năng làm thay đổi nhiều nhận thức về văn hoá của cộng đồng.
Những yếu tố trên đây có quan hệ chặt chẽ với nhau và cùng góp phần tạo nên những giá trị chung của văn hoá, thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng nếu chúng được vận dụng thích hợp. Muốn đổi mới kỹ thuật quản lý hành chính, du nhập những kỹ thuật mới, tất nhiên cần tiết phải tổ chức việc học tập khoa học theo một quy trình chặt chẽ. Nhưng để phát triển thì không thể không tính đến vai trò của các yếu tố khác.
3. Tiếp thu kỹ thuật quản lý hành chính mới trên cơ sở những quan niệm nào về giá trị trong nhận thức truyền thống của người Việt Nam? Câu hỏi này cũng cần trả lời nhưng không đơn giản.
Đảng ta trong nhiều văn kiện gần đây đã nhấn mạnh rằng chúng ta đổi mới là để phát triển. Vì nhu cầu phát triển mà phải đổi mới phải tiếp thu cái mới từ mọi phía. Nhưng trong đổi mới phải bảo vệ mọi giá trị văn hoá. Bản sắc văn hoá dân tộc phải được giữ gìn và phục vụ cho đổi mới, phát triển. Từ công cuộc đổi mới để tồn tại và phát triển, đồng thời chúng ta cũng phải đóng góp vào văn hoá chung của nhân loại những giá trị mới.
Thực hiện phương châm trên, để đảm bảo tiếp thu được các yếu tố mới về kỹ thuật và thủ tục hành chính, các quan niệm về giá trị truyền thống của người Việt Nam cần phải được tính đến một cách đầy đủ. Từ đó có thể thấy nên tiếp thu những yếu tố gì từ các nước khác vào nền hành chính Việt Nam tương lai cho thích hợp.
Để tìm được câu trả lời cho vấn đề đang nói đến ở đây, trước hết cần thấy rằng, xét về mặt truyền thống, mỗi dân tộc đều có một cách triết lý riêng có nguồn gốc từ trong lịch sử và tồn tại như một bản chất mà người ta gọi là bản sắc dân tộc. Nó đảm bảo cho một dân tộc khi sống cùng với các dân tộc khác luôn luôn giữ được bản sắc riêng của mình. Dân tộc Việt Nam cũng vậy. Ví dụ như, từ xưa, do quan niệm của nho giáo ăn sâu, người Việt Nam ta quan niệm rằng con người sinh ra vốn tốt, “nhân chi sơ tính bản thiện”, nhưng lại dễ dàng bị hư hỏng nên phải rèn luyện thường xuyên để vươn lên, để giữ cái tốt. Nơi rèn luyện tốt nhất là tập thể, cộng đồng, là cơ quan, trường học v.v.. Từ đó, người Việt đề cao sự trường tồn của tập thể, của cộng đồng truyền thống, tìm mọi cách để bảo vệ cộng đồng. Không có gì lạ khi ta thấy ở nông thôn nước ta các định chế để duy trì sự bền vững của tập thể cộng đồng (như xóm làng, dòng họ v.v..) từ xưa rất được coi trọng.
Trong sinh hoạt, người Việt rất chú ý đề cao coi trọng các hoạt động, các phương thức điều hành mà theo đó con người có thể phát huy được sự hoà hợp với tập thể, đồng thời phát huy được bản ngã của mình. Người Việt Nam rất chú trọng đến việc tự kiềm chế bản thân sao cho phù hợp với mọi người trong tập thể, sống thận trọng và làm việc gì cũng cân nhắc mọi lẽ, cố gắng nhường nhịn và mềm dẻo. Trong tình thương yêu cộng đồng, có khi “anh em xa không bừng láng giềng gần.”
Những quan niệm quen thuộc về giá trị trong cuộc sống từ lâu của người Việt như vậy rất cần phải chú ý khi mở rộng việc tiếp thu kỹ thuật mới và thay đổi quy trình quản lý hành chính cũ.
Một quan niệm khác: Trời đất, vũ trụ, thiên nhiên đối với người Việt nam theo truyền thống từ xưa, là thiêng liêng. Con người trong vũ trụ chỉ là một bộ phận bị trời đất, thiên nhiên, vũ trụ chế ngự.
Từ quan niệm nói trên mà trong mối quan hệ với ngoại cảnh, người Việt Nam rất chú trọng giữ thế quân bình, không muốn làm gì gây nên đảo lộn rõ rệt của ngoại giới. Họ chuộng sự trật tự. Trong xã hội, quan niệm này là sự tôn trọng tôn ti trật tự xã hội, là việc xử thế theo vị trí của mình. Phép tắc, nghi lễ, tôn trọng bề trên từ xưa đã thành một giá trị của văn hoá truyền thống Việt Nam, một loại giá trị đạo đức được thừa nhận rộng rãi. Giá trị này tạo nên một sự trung thành rất tự nguyện của cấp dưới đối với cấp trên, như con với cha trong gia đình.
Khi xây dựng tương quan nhân sự, xác lập trật tự mới trong bộ máy quản lý Nhà nước theo cơ chế mới, những đặc điểm vừa nói ở trên rất cần được chú ý đúng mức. Hơn ở bất cứ nơi nào, người Việt Nam ta chuộng sự ổn định và đó phải là cơ sở đầu tiên của sự đổi mới.
Tất nhiên, không thể phủ nhận rằng khi tiếp xúc với các nền văn hoá khác, người Việt Nam cũng hấp thụ được nhiều cái mới, nhiều quan niệm mới về giá trị. Những năm gần đây chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước ta đã tạo ra những môi trường thuận lợi mới cho sự giao lưu văn hoá giữa nước ta và nhiều nước khác trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị – xã hội. Một số quan niệm về giá trị từ nhiều thập kỷ qua, đặc biệt trong thời gian gần đây đã thay đổi với những mức độ khác nhau. một số quan điểm mới về giá trị đã được thừa nhận và đang được phổ biến. Nhiều quan niệm cũ dần dần đã không còn chỗ đứng trong nhận thức thông thường.
Tuy nhiên, cũng không nên quên rằng xoá bỏ những quan niệm đã ăn sâu vào tiềm thức của một dân tộc từ bao đời, dù đó là quan niệm đã lạc hậu, không phải là điều đơn giản. Ví dụ, cho đến nay vẫn còn nhiều người quan niệm rằng làm việc trong bộ máy Nhà nước là có quyền hành, địa vị và có thể thực hiện những ý đồ cá nhấn, phục vụ cho lợi ích của riêng mình, gia đình mình. Họ tìm cách thoả mãn những nhu cầu xã hội của mình trong khuôn khổ họ hàng, gia tộc, ra sức củng cố địa vị của mình để họ hàng anh em được nhờ cậy và từ đó làm việc thuận lợi theo ý đồ cá nhân. Cuộc đấu tranh để xoá bỏ những quan điểm như vậy, qua thực tế cho thấy, là một cuộc đấu tranh không ít gian khổ.
Từ những phân tích trên, có thể đi đến một nhận xét tổng quát là: tiếp thu kỹ thuật quản lý mới là một nhu cầu tất yếu của công cuộc cải cách hành chính. Nhưng điều đó chỉ có thể thực hiện có kết quả trên cơ sở hiểu rõ những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc. Đó không phải chỉ là thực tế của Việt Nam mà các nhà nghiên cứu nhiều nước khác cũng đã khẳng định. Một nhà nghiên cứu Nhật Bản đã viết rất chí lý rằng: “Không một nước nào có thể tiến triển được mà lại xem thường quá khứ của chính mình. Quá khứ áp đặt tiến trình phát triển tiếp theo của một nước… Bất kỳ tư duy khoa học xã hội nào không đếm xỉa gì đến lịch sử, cho dù nó có thể có tác dụng như là một bước tiến đầu tiên tới gần hiện thực, đôi khi có thể trở nên thậm chí là một tư duy nguy hiểm”5
————————
1. Xem: Bùi Xuân Dính. “Lệ làng phép nước” NXB Pháp lý Hà Nội, 1985
2. Xem: Phan Đại Doãn. Làng Việt Nam, một số vấn đề kinh tế xã hội. NXB “Khoa học xã hội” và NXB “Mũi Cà Mau”1992
3. Xem: Dương Kinh Quốc: Chính quyền thuộc địa ở Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945. NXB Khoa học xã hội. 1988.
4. Xem: Đỗ Huy, Trường Lưu: Sự chuyển đổi các giá trị trong văn hoá truyền thống Việt Nam; NXB Khoa học xã hội, 1993, tr. 125-126
5.Michio Morischima “Tại sao Nhật Bản thành công” NXB “Pháp lý” 1991, tr 249

GS. TSKH. Nguyễn Văn Thâm
www.vanthuluutru.com

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *