boxes-of-files

Dễ dàng hơn với công nghệ số

Bài viết này nhằm ba mục đích. Trước tiên, bài viết định nghĩa các công nghệ số dưới góc độ của truyền thông và mã hoá. Tiếp theo, bài viết trình bày những thành phần then chốt của một hệ thống công nghệ ảnh số (digital imaging system) và những bước quan trọng nhất trong quá trình tạo hình ảnh số. Cuối cùng, bài viết nêu ra một số vấn đề lớn cần phải lưu ý khi các thư viện và trung tâm lưu trữ chuyển từ quá trình thử nghiệm công nghệ số sang sử dụng nó như một công cụ để chuyển đổi cách thức hoạt động của mình.

Giới thiệu

Chúng ta đang sống trong một thế giới số. Kỹ thuật số hiện hữu ở mọi nơi. Số bàn phím nhiều hơn cả số nhân viên văn phòng. Ai cũng có riêng một trang Web. Không còn ai phải đem theo tiền mặt. Những từ như “bitslag”, “jitterati”, “NIMQ” và “CGIJoe” xuất hiện trong những câu chuyện thường ngày. Những nhà tỷ phú công nghệ dường như sở hữu những bản sao kỹ thuật số của tất cả những kho tàng nghệ thuật. Đối với các thư viện và trung tâm lưu trữ, lo ngại dường như càng tăng lên rằng nếu chúng ta không áp dụng kỹ thuật số, không hoà mình vào kỹ thuật số, không tư duy kỹ thuật số thì chúng ta đang tự giam mình trong một bảo tàng giấy khổng lồ.

Thế nhưng, thách thức lớn nhất mà chúng ta gặp phải có lẽ không phải là đi theo công nghệ số mà phải là xây dựng một ngôn ngữ chung để mô tả những biến đổi có tác động phi thường như vậy tới cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Một vốn từ chung là yếu tố then chốt để xây dựng một xã hội hành động và một tầm nhìn chung về tương lai giữa những người đang gánh trách nhiệm lưu giữ các nguồn lực văn hoá của đất nước. Jim Taylor và Watts Wacker chỉ ra rằng “Nếu nhìn lại lịch sử, giá trị thực sự đọng lại từ cuốn Những xu hướng lớn (Megatrends) của Naisbitt và Làn sóng thứ ba (Third Wave) của Toffler’s hoá ra lại là từ ngữ chứ không phải thế giới quan”. Không đâu mà từ ngữ lại đáng để bàn hơn là trong cách nhìn của chúng ta về vị trí của công tác bảo quản trong thế giới số mà chúng ta đang sống.

Những khái niệm cơ bản về kỹ thuật số

ở mức độ cơ bản nhất, các công nghệ số là một sự tiếp nối cách thức mà từ xưa đến nay chúng ta giao tiếp với nhau. Nhu cầu giao tiếp tạo ra động cơ và cơ sở hợp lý cho sự phát triển của đủ loại công nghệ. Thế giới số ngày nay gắn liền với việc sáng tạo, chia sẻ và sử dụng thông tin dưới dạng số. Thông tin số hoá là những dữ liệu được cấu trúc và xử lý, lưu trữ và nối mạng, được trả tiền và được bán.

Thông tin nằm ở nhiều dạng khác nhau. Một trong những cách phân biệt các dạng này là phân biệt giữa thông tin tượng hình và thông tin mã hoá. Chúng ta hãy mô tả điều này bằng cách nhìn vào rất nhiều cách biểu diễn chữ cái phổ biến nhất trong bảng chữ cái Latinh – chữ cái E – bắt đầu với những biểu tượng sơ khai của bảng chữ cái in.

Một bài học lịch sử

Thời kỳ từ phát minh của Guntenberg vào giữa thế kỷ 15 cho đến năm 1500 thường được gọi là sơ kỳ. Vào thời kỳ này, các nhà in và nhà làm sách phải tốn khá nhiều công sức để làm cho sản phẩm của mình – từ kiểu chữ, định dạng đến trình bày – có bề ngoài và cách sử dụng giống như những cuốn sách viết tay của những thế kỷ trước. Chỉ đến khi lý thuyết về bảng chữ cái và lý thuyết về sách xuất hiện vào khoảng thời kỳ mà tác phẩm cổ điển của Geofroy Tory được thể hiện trên cấu trúc bảng chữ cái Latinh, những nhà làm sách mới có thể bắt đầu tận dụng được phát kiến công nghệ của Gutenberg.

Sơ đồ 1 là minh hoạ của chữ hoa “E” trong tác phẩm Champ Leury của Tory năm 1529 được viết nhằm phát triển lý thuyết về bảng chữ cái trên cơ sở các bộ phận của cơ thể người và những nguyên lý cơ bản của Ơ-clit (Euclid). ở đây, chữ cái “E” là một mẫu vẽ bằng mực trên giấy.

Thế giới được định hình bằng các chuỗi số 1 và số 0 vốn tồn tại đã từ rất lâu. ý tưởng về máy tính số bắt nguồn từ hơn 300 trước đây trong bộ óc đầy sáng tạo của nhà toán học người Đức Gottfried Wilhelm von Leibnitz. Năm 1679, Leibnitz tưởng tượng ra một thiết bị mà trong đó các con số nhị phân được thể hiện bằng những hạt nhỏ hình cầu, tuần hoàn trong một cỗ máy như kiểu máy trong trò chơi bắn đạn, được điều khiển bởi một dạng sơ khai của phiếu đục lỗ. Ông mô tả một hệ thống số hoàn chỉnh mà trong đó tất cả các phép tính đều có thể biểu diễn bằng những tập hợp của số 1 và số 0 – cách tiếp cận giống hệt cách mà các công nghệ số ngày nay đang sử dụng.

Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên sơ khai của kỹ thuật số – thời kỳ được đánh dấu bằng những nỗ lực thầm lặng nhằm làm tạo ra những sản phẩm kỹ thuật số có hình thức và tính năng giống như những sản phẩm công nghệ tương tự (analog) cùng loại. Nhưng chỉ khi nào chúng ta xây dựng được một lý thuyết về biểu diễn thông tin dạng số chúng ta mới có thể khai thác hết sáng tạo toán học của Leibnitz. Ngày nay, lý thuyết đó đang được hình thành.

Sơ đồ 2 là một mẫu chữ tượng hình khác – chữ Braille. ở đây chữ cái “e” được biểu diễn bằng những dấu chấm nổi to và nhỏ theo những đường kẻ có thể cảm nhận được. Cũng cần lưu ý rằng cùng một mẫu chữ có thể được hiểu hoặc là chữ “E” hoặc là số “5” tuỳ thuộc ngữ cảnh của mẫu chữ đó được sử dụng. Ngữ cảnh cũng là ý tưởng rất quan trọng đối với việc biểu diễn thông tin dưới dạng số. Đối với chữ Braille, nếu bạn biết ngữ cảnh và hiểu được mẫu chữ, việc giao tiếp sẽ nhanh chóng và hiệu quả.

Ngôn ngữ Ký hiệu của Mỹ sử dụng dấu hiệu làm biểu tượng. Đó là ngôn ngữ mà người ta kết hợp hình dáng và cử chỉ của bàn tay để truyền đạt ý nghĩa. Hình dáng mà không có cử chỉ mới chỉ là một nửa của quá trình (truyền tin). Giao tiếp phụ thuộc vào việc cùng hiểu ý nghĩa của cả hai thành phần đó của ngôn ngữ. Sơ đồ 3 là sự thể hiện dưới dạng tĩnh của chữ cái “E”.

Tuy nhiên, trong hiệu lệnh bằng cờ, cách thức cử động lại chính là biểu tượng. Việc chuyển đổi từ một sự kết hợp giữa cờ và tay sang một sự kết hợp khác tạo ra một sự liên kết thông tin. Sơ đồ 4 là một hình thức biểu diễn khác dưới dạng tĩnh của chữ cái “E”. Những lý thuyết về truyền thông kỹ thuật số đang hình thành vẫn chưa giải thích đầy đủ về những giác quan khác nhau mà chúng ta thường sử dụng để giao tiếp trực tiếp – đó là những đặc điểm tinh tế của ngôn ngữ hành động, cử chỉ và giọng điệu. Và khi truyền thông kỹ thuật số càng trở nên tinh vi, sự phụ thuộc của nó vào máy móc là một trở ngại lớn.

Mặc dù vậy, một số hình thức đầu tiên của truyền thông trực tiếp hiện đại qua những khoảng cách lớn lại mang đặc trưng của kỹ thuật số. Sơ đồ 5 là một ví dụ về Máy điện báo bằng hình ảnh của George Murray từng truyền tin từ Luân Đôn tới Deal bắt đầu từ năm 1794. Hệ thống này bao gồm các bục nổi được đặt đối xứng ngang nhau. Trên mỗi bục nổi này có một bảng lớn gồm sáu lỗ vòng tròn lớn có thể đóng bằng các các cửa sập bằng gỗ – khá là giống với các kiểu chữ Braille – do một nhân viên đã qua đào tạo điều khiển. Các báo cáo cho thấy một thông điệp có thể truyền dọc một chuỗi 15 trạm trong vòng vài phút. Nhưng hãy thử tưởng tượng xem cần tổng số bao nhiêu nhân viên hành chính để vận hành hệ thống như vậy!

Con đường phát triển từ Điện báo Hình ảnh tới truyền thông kỹ thuật số hiện đại được đánh dấu bằng những chuyển đổi liên tiếp từ biểu tượng sang mã số. Samuel F.B. Morse phát minh ra mã số gồm các dấu chấm và gạch ngang làm ngôn ngữ cho máy điện báo của ông. Radio – hay điện báo không dây – cũng bắt nguồn từ mong muốn mở rộng truyền thông kỹ thuật số của Morse tới những nơi mà đường dây không thể với tới được. ứng dụng đầu tiên của công nghệ tương tự sử dụng các sóng liên tục là việc truyền các dấu chấm và gạch ngang của tín hiệu Morse tới các tàu trên biển. Việc mã hoá chữ cái E bằng mã 01100101 trong bảng mã ASCII hiện nay bắt nguồn từ các lý thuyết của Leibnitz và công nghệ thực tiễn của Samuel Morse hơn là bắt nguồn từ công nghệ phát thanh và truyền hình.

Mã hoá bằng số – một số khái niệm cơ bản

Hệ thống kỹ thuật số (digital) sử dụng các con số để biểu diễn một đối tượng cụ thể hoặc một ý tưởng trừu tượng. Số hoá (digitization) là quá trình chuyển đối tượng hoặc ý tưởng đó thành một mã số. Giới hạn của công nghệ kỹ thuật số là hệ thống mã hoá chỉ sử dụng hai con số – số 1 và số 0 – vì vậy mà ta có khái niệm nhị phân (binary). Mỗi vị trí số trong hệ thống là một bit. Trong thế giới số bit là vật chất; chúng chiếm không gian; chúng cần thời gian để di chuyển từ vị trí này sang vị trí khác. Người ta có thể đếm và mô tả được một tập hợp các bit, giống bất cứ một thứ nào khác. Cách phổ biến nhất để đếm các bit trong một hệ thống là sử dụng “byte” hay tám bit, mặc dù công nghệ máy tính đã không còn sử dụng byte như là một đối tượng độc lập từ hàng thập kỷ trước đây.

– Kỹ thuật số (digital): sử dụng các con số để thể hiện các đối tượng khác nhau

– Phân tích dữ liệu số (digitalize): xử lý tín hiệu điện tim, một cách điều trị bệnh tim

– Số hoá (digital): chuyển một đơn vị đo lường tỷ biến sang một mô tả dưới dạng số

– Nhị phân (binaray): một hệ thống số trong đó mỗi con số được biểu diễn bằng luỹ thừa của 2 chỉ sử dụng hai con số là 0 và 1.

– Bit: con số nhị phân

– Byte: 8 bit

Một ảnh ánh xạ bit là một bức ảnh số được tạo bởi các dòng liên tục của các bit trong một khung lưới. Trong một bức ảnh số, một bit thường được coi là một điểm sáng (pixel), viết tắt của cụm từ “picture element”. Giống như các đối tượng, các ảnh số được mô tả thông qua ba đặc trưng: độ phân giải, khoảng động và kích thước điểm sáng.

Thời gian gần đây, khái niệm thứ tư, giá trị tín tông màu (tonal value), được áp dụng để mô tả đặc trưng của một “ảnh số”, một thuật ngữ gây nhầm lẫn về sự thể hiện dưới dạng số của một bức ảnh, ví dụ như ảnh chụp. Một ảnh ánh xạ bit là một kiểu trình bày mã hoá dạng số chứ không phải là một biểu tượng được mã hoá dạng số như là chữ cái mà chúng ta có thể nhận ra qua một bảng chữ cái.

– Độ phân giải (resolution): số điểm sáng (cả chiều ngang và chiều dọc) làm nên một bức ảnh

– Khoảng động (dynamic range): số màu hoặc hoặc sắc thái đậm nhạt có thể có trong một bức ảnh cụ thể

– Kích thước điểm sáng (pixel size): phần của lưới điểm sáng mà một máy quét (scanner) có thể nhận biết và mã hoá được.

– Tông màu (tone): mức độ mà một bức ảnh chuyển tải các khoảng độ chói của một cảnh gốc.

Độ phân giải là số điểm sáng (hay số chấm) được sử dụng để mã hoá một đoạn 2,54 cm (1 inch) theo chiều ngang và/hoặc chiều đứng. Hãy quan sát một mẩu giấy kẻ dùng để vẽ biểu đồ. Số các khối nhỏ trong một inch liên tiếp hướng lên hoặc xuống của tờ giấy chính là độ phân giải. Số điểm sáng trong một đoạn nhỏ càng nhiều thì độ phân giải càng lớn và các kiểu hình ảnh hiển thị càng chính xác hơn trên một bề mặt nào đó có thể biểu diễn được dưới dạng số. Mô tả một bức ảnh bằng 300 điểm chấm trên một inch (dots per inch – dpi) nghĩa là 300 điểm sáng được sử dụng để thể hiện mỗi inch chạy ngang trên bề mặt. Đôi khi người ta (nhầm lẫn) cho rằng một bức ảnh có 300 điểm sáng theo chiều ngang cũng sẽ được biểu diễn bởi 300 dòng theo chiều đứng. Cấu trúc thực tế của một khung lưới số phụ thuộc vào năng lực của thiết bị quét hình.

Sơ đồ 6 là một chữ cái e cao 3 mm ở độ phân giải 600 dpi được quét từ vi phim âm bản tại Thư viện Đại học Yale. Lưu ý rằng mẫu chữ mã hoá bằng số chiếm khoảng 4900 bit trong máy tính so với 8 bit cần để dùng cho các biểu tượng mã hoá bằng của bảng mã ASCII.

Khoảng động chỉ số lượng mầu hoặc các sắc thái đậm nhạt (shades of gray) có thể có trong một bức ảnh cụ thể. Khoảng động đôi khi còn được gọi là “độ sâu” và thường được thể hiện bằng số bit trên một điểm sáng. Trong chế độ quét ảnh lưỡng sắc, số màu sắc ứng với mỗi điểm sáng được làm tròn thành 0 (trắng) hoặc 1 (đen). Mỗi bit thông tin được dùng để mã hoá giá trị của điểm sáng đó. Trong chế độ quét ảnh xám 8 bit, số bit của bức ảnh mẫu tương ứng với mỗi điểm sáng được làm tròn đến một trong số 256 giá trị, mỗi giá trị biểu diễn các mức độ sáng tăng dần liên tục. Để biểu diễn mỗi điểm sáng cần 8 bit thông tin. Trong chế độ quét ảnh đều màu, ba màu sắc của hệ màu được biểu diễn bằng một trong số 256 sắc thái phù hợp và được mã hoá bằng 24 bit (8 bit cho mỗi màu). Hai hệ màu nổi bật là Đỏ/Xanh da trời/Xanh nước biển dùng để chiếu trên màn hình và Lục lam/Đỏ tươi/Vàng dùng để in bằng kỹ thuật số.

Kích thước điểm sáng là một đơn vị đo lường quan trọng dùng để đo khả năng của một phần cứng nào đó của máy quét trong việc thể hiện trọn vẹn các kiểu dáng một mặt phẳng. “Độ phân giải thực” của một máy quét là phần của mặt phẳng mà máy có thể nhận biết được. “Độ phân giải ” của một máy quét là số điểm sáng trong mỗi inch liên tiếp của một dòng (array) khi không có sự hiệu chỉnh về quang học. Muốn có độ phân giải thực lớn hơn phải phụ thuộc kỹ thuật cơ khí và điện của một thiết bị nhất định. Đôi khi các nhà sản xuất máy quét sử dụng các giải pháp phần mềm (gọi là độ phân giải tổng hợp) để bù đắp cho sự hạn chế về độ phân giải thực. Điều quan trọng là nên thận trọng đối với các khẳng định của nhà sản xuất máy quét, thử nghiệm và đánh giá chất lượng tỉ mỷ trước khi quyết định mua các thiết bị quét.

Tái tạo tông màu chỉ mức độ mà một bức ảnh chuyển tải các khoảng chói của một cảnh gốc (hoặc của một bức ảnh được tái tạo lại trong trường hợp xử lý ảnh kỹ thuật số). Theo Reily và Frey, tông màu “là yếu tố chất lượng quan trọng nhất và duy nhất của bức ảnh”. Tái tạo tông màu là quá trình khớp lại, điều chỉnh hoặc tăng cường các tông màu tương ứng với các tông màu của tài liệu gốc. Chính vì tất cả các thành phần khác nhau của một hệ thống công nghệ ảnh số tham gia vào tham gia vào quá trình tái tạo tông màu nên thường rất khó kiểm soát”.

Độ phân giải, khoảng động, độ phân giải thực và tông màu kết hợp với nhau tạo nên chất lượng của một bức ảnh. Khi được định nghĩa và đo lường cẩn thận, những thuật ngữ này có thể dùng để mô tả những đặc trưng của một bức ảnh, so sánh những đặc tính về chất lượng giữa hai hoặc nhiều bộ sưu tập ảnh và so sánh bức ảnh số với bản gốc của nó. Người ta cũng có thể kết hợp các giá trị của độ phân giải và khoảng động của một tấm ảnh nào đó để mô tả kích thước của một bức ảnh ở góc độ lượng dữ liệu cần thiết để thể hiện bức ảnh đó dưới dạng số.

Mô tả các đối tượng số. Việc mô tả một bức ảnh hoặc một bộ sưu tập ảnh dưới góc độ chất lượng và số lượng chỉ mới là một nửa của quá trình tạo hình ảnh số. Dữ liệu số để mô tả chính bản thân đối tượng đó cũng không kém phần quan trọng. Trong các hệ thống tạo hình ảnh số, những dữ liệu mô tả đó tồn tại dưới dạng liên kết của ít nhất ba thành phần. Thành phần thứ nhất là các dữ liệu mang tính kỹ thuật (thường được gọi là đầu ảnh (image header) mô tả định đạng của bức ảnh số và các phương thức dữ liệu số thô được nén để tiết kiệm không gian lưu trữ và thời gian truyền.

Thành phần thứ hai là các dữ liệu mô tả những đặc tính của của đối tượng số (có thể bao gồm một hoặc nhiều bức ảnh số). Siêu dữ liệu là dữ liệu mô tả về dữ liệu và vì vậy về cơ bản nó được gắn với khả năng truy cập của một đối tượng nào đó. Nếu chỉ là những ánh xạ nhị phân đơn thuần, các ảnh số hoá rất vô vị và không thể tìm thấy được hoặc không hiểu được về chúng nếu không có các siêu dữ liệu ở mức độ nào đó.

Thành phần mô tả thứ ba là thông tin mô tả các mối quan hệ giữa hai hoặc nhiều các đối tượng số khác nhau. Các chỉ mục có cấu trúc là một thành phần quan trọng đối với bất cứ hệ thống tạo hình ảnh kỹ thuật số nào mà nội dung của hệ thống về bản chất có trật tự thứ bậc (như các kho tài liệu lưu trữ, sách, tài liệu cắt báo (scrapbooks), các bộ sưu tập ảnh bí mật và các loại tương tự). Hiếm có đối tượng số hoá nào mà không thể tăng cường khả năng truy cập thông qua việc sử dụng các chỉ mục có cấu trúc. Thông tin về cấu trúc có thể nằm ở các loại dữ liệu tách biệt (chẳng hạn …..) hoặc được gắn trực tiếp vào chính bản thân siêu dữ liệu đó (chẳng hạn các đề mục môn loại có kiểm soát trong một bản ghi thư mục).

Tóm lại, trung tâm của thế giới kỹ thuật số là truyền thông mà điều đó không thể diễn ra nếu thiếu đi một vốn từ chung và một hệ thống các biểu tượng chung. Tạo hình ảnh số là việc thể hiện thế giới mà chúng ta có thể cảm nhận (nhìn, sờ, nghe, ngửi và nếm) bằng những con số. Các bức ảnh dưới dạng ánh xạ bit chỉ là những bức ảnh thiếu thông minh. Tất cả ý nghĩa được bao hàm trong hệ thống công nghệ số bắt nguồn từ lớp trên của lớp mã hoá bằng con số mà đa phần phải do con người thực hiện chứ không phải máy móc. Và như vậy, suy cho cùng, tạo hình ảnh kỹ thuật số liên quan chủ yếu đến chúng ta nhiều hơn là liên quan đến những công cụ mà chúng ta sử dụng.

 

Quá trình và sản phẩm tạo hình ảnh số

Bây giờ chúng ta sẽ chuyển sang nghiên cứu về các quá trình tạo hình ảnh số và các sản phẩm của chúng qua việc xem xét hai mô hình tổng quát.

Mô hình quá trình tạo hình ảnh

Ở mức độ cơ bản nhất, việc chuyển dạng một cuốn sách, một tập bản thảo, một phim âm bản hoặc một cuộn vi phim không phức tạp và không lắt léo. Các đối tượng nguồn phù hợp cho việc chuyển dạng được lựa chọn và chuẩn bị để quét; việc chuyển dạng được thực hiện thông qua công nghệ quét hình chuyển các tín hiệu ánh sáng phản chiếu thành dữ liệu số; việc truy cập dữ liệu số này được thực hiện bằng cách thể hiện các dữ liệu số đã lưu trữ. Tuy nhiên, quá trình trông đơn giản này lại ẩn chứa đằng sau nó sự phức tạp đáng kể ở tất cả các giai đoạn của quá trình tạo ảnh.

– Nguồn: Các thư viện và trung tâm lưu trữ có nhiều vô số các kho tài liệu phức tạp và đa dạng thích hợp để chuyển sang dữ liệu số. Các nguồn đa dạng về kích cỡ, định dạng, chất liệu và điều kiện bảo quản; các nguồn có thể chủ yếu dưới dạng chữ; tài liệu có thể có ảnh minh hoạ mà bản thân các ảnh minh hoạ này có thể rất đa dạng về tính chất. Các nguồn cũng có thể có những nội dung quan trọng được in màu.
Không phải tất cả việc chuyển đổi dữ liệu sang dạng số đều được thực hiện từ những nguồn dữ liệu gốc. Việc sử dụng phim làm trung gian ngày càng đóng vai trò quan trọng trong một hệ thống tạo hình ảnh số. Các dạng trung gian đa dạng về chủng loại, từ các tờ chiếu màu 35 mm (35 mm color slides) và vi phim có độ tương phản cao (high-contrast microfilm) đến các vi thẻ toàn cảnh (full-frame microfiche) và phim âm bản khổ lớn. Michael Ester đã từng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nắm rõ các đặc điểm của các phim trung gian. “ảnh số chỉ có thể đẹp được như ảnh nguồn của nó mà thôi; nếu các chi tiết hoặc đường nét của hình ảnh không có trong ảnh trung gian, nó cũng sẽ không xuất hiện trong ảnh số”.

– Chuyển dạng: Con người và máy móc quan trọng như nhau trong việc chuyển dạng các tài liệu nguồn. Các cấu hình của thiết bị khá phức tạp và phát triển nhanh về mặt tính năng. Các cấu hình này gồm phần cứng, phần mềm, vi chương trình (phần mềm cấy trên con chip) và hệ thống lưu trữ. Các hệ thống tạo hình ảnh có sự khác nhau về độ tinh vi trong chế tạo, về chất lượng của các thiết bị cảm biến, về đặc tính của phần mềm được tạo ra để đơn giản hoá quá trình tạo ảnh và về tốc độ chuyển dạng một nguồn hoặc một tập hợp nguồn nhất định mà hệ thống có thể thực hiện được. Thử nghiệm các cấu hình thiết bị trước khi mua hoặc thuê là hết sức quan trọng. Một giải pháp tốt để hiểu xem các hệ thống hoạt động như thế nào là đi thăm các thư viện, các trung tâm lưu trữ, các trung tâm dịch vụ hoặc các tổ chức khác có các hệ thống tương tự.
Công việc chuyển dạng sang dữ liệu số đòi hỏi rất nhiều nhân lực. Hiện nay, chất lượng và khả năng truy cập của sản phẩm số hoá phụ thuộc nhiều vào các kỹ năng và năng lực mà con người sử dụng trong quá trình khảo sát, quét ảnh, xây dựng chỉ mục (indexing), và quản lý các tệp dữ liệu. Nếu nỗ lực đúng mức có thể thu nhận và duy trì những kỹ năng này ngay tại đơn vị. Tuy nhiên, so với trước đây, ngày nay việc ký hợp với các công ty chuyên về các dịch vụ chuyển dạng ảnh chất lượng cao linh hoạt hơn nhiều.

Truy cập: Ở một mức độ trừu tượng nhất định, một sản phẩm số chỉ tồn tại nếu nó có thể tìm thấy và xem được. Các hệ thống truy cập sản phẩm số ít nhất cũng phức tạp chẳng kém các hệ thống hỗ trợ việc chuyển dạng. Các công nghệ nền (PC, Unix, Mac) khác nhau về tính năng; sự phù hợp của một cấu trúc mạng có thể tạo nên hoặc phá vỡ một hệ thống truy cập. Tương tự như vậy, công nghệ hiển thị (màn hình và máy in) là cực kỳ quan trọng để sử dụng tốt nhất sản phẩm số.

Công nghệ là một trong những mắt xích yếu nhất trong toàn bộ hệ thống. Công nghệ chuyển dạng giờ đây có khả năng tạo ra dữ liệu lớn hơn nhiều so với khả năng có thể hiển thị một cách hữu dụng của phần lớn các màn hình máy hính hiện nay.

Sơ đồ 7 là một minh hoạ dạng biểu đồ của các thành phần trong mô hình xử lý. Quan trọng là cần nhận thấy rằng sự phức tạp của một hệ thống công nghệ ảnh số chỉ liên quan một phần đến sự phức tạp của các bộ phận đơn lẻ. Các thành phần của quá trình tương tác với nhau làm tăng thêm sự phức tạp.

Mô hình sản phẩm ảnh số

Quá trình tạo hình ảnh số tạo ra sản phẩm có những đặc trưng riêng khác với những đặc trưng của nguồn ảnh gốc. Thách thức lớn nhất trong việc tạo ra một sản phẩm ảnh số là dung hoà giữa ba vấn đề: các thuộc tính của nguồn; các khả năng của công nghệ chuyển dạng và những mục đích hoặc tính năng sử dụng của sản phẩm đầu cuối.

Sơ đồ 8 là một giản đồ xác định những vấn đề và nêu ra một tập hợp các quan hệ có thể quản lý được nhằm tạo ra một sản phẩm ảnh số có đủ giá trị xứng đáng với chi phí và sự nỗ lực để đảm bảo việc bảo quản lâu dài.

Trong số 3 tập hợp các vấn đề (nguồn, công nghệ, mục đích sử dụng) trong hệ thống, khái niệm các mục đích sử dụng khác nhau có lẽ ít được nhất trí hơn cả. Một số nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này đã bắt đầu khuyến cáo rằng chất lượng của sản phẩm đầu cuối có thể được tạo dựng theo cách nào đó thông qua việc tham khảo một trong ba mục đích mà sản phẩm có thể phục vụ người sử dụng cuối cùng.

Bảo vệ tài liệu gốc. ứng dụng cơ bản nhất của công nghệ số vào thư viện hoặc trung tâm lưu trữ là nhằm tạo ra những bản sao dạng số có đủ chất lượng để có thể dùng tham khảo thay thế cho việc tra tìm cẩu thả các tài liệu gốc. Các tệp tin tham khảo là ảnh của các bộ sưu tập ảnh, các tập bài cắt báo dùng hoặc các tệp hồ sơ mỏng cho phép định danh từng tài liệu đơn lẻ cần nghiên cứu sâu hơn là các ví dụ của ứng dụng này. Các mục tiêu bảo quản do đó đã được đáp ứng vì những tài liệu gốc có thể được bảo vệ nhờ hạn chế việc tiếp cận chúng.

Thể hiện bản gốc. Hệ thống công nghệ số có thể được xây dựng để hiển thị nội dung thông tin của những tài liệu gốc ở mức chi tiết mà hệ thống đó có thể sử dụng để khai thác phần lớn, nếu không nói là tất cả, tiềm năng nghiên cứu và học tập của các tài liệu gốc. Các hệ thống có độ phân giải cao cố gắng thể hiện đầy đủ và hoàn chỉnh nội dung, cố gắng đạt được “sự thu nhận đầy đủ thông tin” dựa trên những tiêu chuẩn mới đưa ra và tốt nhất, là các hệ thống phù hợp với định nghĩa này. Các hệ thống ở mức chất lượng tầm trung này mở ra những hướng đi mới cho việc nghiên cứu và sử dụng đồng thời có khả năng tạo ra tác động có tính chuyển đổi trong sứ mệnh phục vụ của những người làm ra những sản phẩm đó.

Vượt qua bản gốc. Trong một số ít các ứng dụng, công nghệ ảnh số hứa hẹn tạo ra sản phẩm có thể sử dụng cho những mục đích mà sử dụng tài liệu gốc không thể đạt được. Mảng ứng dụng này bao gồm cả công nghệ ảnh sử dụng chiếu sáng đặc biệt để vẽ ra những chi tiết bị mờ đi do thời gian, do sử dụng hoặc do tác hại của môi trường; công nghệ ảnh sử dụng các trung gian ảnh chuyên dụng; hoặc công nghệ ảnh có độ phân giải cao đến mức có thể tiến hành nghiên cứu những đặc điểm khảo cổ.

Mỗi một trong những ứng dụng này đặt ra những đòi hỏi riêng biệt nhưng ngày càng khắt khe đối với công nghệ số. Trong mỗi trường hợp, việc sử dụng phim hoặc bản sao trên giấy làm trung gian để tiện cho quá trình quét ảnh là cần thiết và nên làm. Tóm lại, việc sắp xếp các tài liệu gốc (bao gồm cả việc tiến hành các biện pháp bảo quản trước hoặc sau khi chuyển dạng) là một vấn đề hoàn toàn khác. Suy cho cùng, mục đích của sản phẩm số bị chi phối bỏi các mục tiêu tiếp cận tài liệu, trong khi đó việc bảo quản các tài liệu gốc cần được quyết định dựa trên nhu cầu bảo quản những nguồn tài liệu này.

Những vấn đề đặt ra

Tài liệu này đã nêu ra một số vấn đề những mà các thư viện viên và nhân viên lưu trữ phải vật lộn với chúng nếu muốn các dự án số hoá của họ có giá trị lâu dài. Sau đây là năm vấn đề vượt khỏi tầm những đặc trưng của công nghệ ảnh số.

Công nghệ. Công nghệ ảnh số là con voi hay chỉ là cái đuôi con voi?

Các công ty chào bán công nghệ ảnh số thường ưa dùng thuật ngữ “giải pháp” để mô tả giá trị các sản phẩm của họ. Thuật ngữ này hàm ý rằng khách hàng xác định vấn đề của mình và mua một giải pháp về công nghệ. Các công nghệ số là một tập hợp công cụ đưa ra rất nhiều lựa chọn và rất ít giải pháp. Có lẽ hợp lý hơn cả là nên phân biệt giữa các dự án công nghệ ảnh số nhằm thử nghiệm các năng lực của công nghệ (và kết quả là sự học hỏi) với những dự án làm thay đổi thực sự về chất các chiến lược quản lý thông tin của chúng ta.

Kiểm soát (Control). Liệu nó có phải là một từ bốn chữ cái (Ctrl)?

Công nghệ số cơ bản là khá ổn định. Tuy nhiên, thị trường công nghệ ảnh số lớn, phức tạp và luôn trong quá trình phát triển không ngừng. Các thư viện và trung tâm lưu trữ chỉ chiếm một phần nhỏ trong thị trường này. Điều đó bắt buộc chúng ta phải tìm cách xác định những thành phần nào của công nghệ số mà chúng ta có thể kiểm soát, lĩnh vực nào mà chuyên môn của chúng ta là một trong rất nhiều ảnh hưởng quan trọng, và khi nào chúng ta chấp nhận các quá trình và sản phẩm của thế giới mà chúng ta đang sống.

Lựa chọn. Các kho tài liệu số của chúng ta vô dụng hay hữu dụng?

Lựa chọn là yếu tố trung tâm của các ứng dụng công nghệ số; việc lựa chọn công nghệ mới chỉ là bước khởi đầu. Lựa chọn nội dung cũng không kém phần quan trọng. Không giống như các chiến lược xây dựng kho tài liệu của các thư viện và trung tâm lưu trữ truyền thống, những chiến lược dẫn đến một quyết sách đối với việc thu nhận và một quyết sách khác đối với việc bảo quản trong nhiều năm sau đó, việc lựa chọn trong thế giới số là một quá trình nhận định và đánh giá liên tục. Hầu như không có kho tài liệu số nào đảm bảo được các chi phí liên quan đến việc duy trì truy cập trong thời gian dài mà không tính đến giá trị và tính chất của việc sử dụng chúng.

Chất lượng. Bạn có sẵn sàng và độc giả có trả chi phí cho chất lượng?

Trong vòng 5 năm qua, các nhân viên thư viện và lưu trữ đã đạt được tiến bộ đáng kể trong việc xác định những kỳ vọng của họ đối với chất lượng của các sản phẩm công nghệ ảnh số được tạo thành từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau. Chất lượng là giá trị mà chúng ta gia tăng thêm vào các sản phẩm ảnh công nghệ số. Mặc dù vẫn còn tồn tại những vấn đề quan trọng về thước đo chất lượng, những trở ngại đối với việc đạt được chất lượng lại dường như không nằm ở chính bản thân công nghệ. Đúng hơn là chi phí để tạo ra và duy trì các sản phẩm số vẫn còn cao; người ta vẫn còn chưa chắc chắn là liệu các chi phí tổng thể để tạo ra một sản phẩm có giảm bớt đi không.

Bảo quản. Có chương trình số hoá nào Không để bảo quản hay không?

Chi phí cao đồng nghĩa với nguy cơ thiệt hại cao. Công tác bảo quản trong thế giới số là biết cách điều chỉnh những khái niệm về bảo quản nhằm quản lý được nguy cơ trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh chóng. Công nghệ ảnh số không chỉ là một lựa chọn chuyển tài liệu sang dạng khác. Công nghệ ảnh liên quan đến việc chuyển đổi khái niệm định dạng, chứ không chỉ nhằm tạo ra một bức tranh chính xác về một cuốn sách, một tài liệu, một tấm ảnh, hoặc một bản đồ lên một phương tiện khác. Cũng như việc sáng chế ra ống chân không mở ra một dạng truyền thông đại chúng hoàn toàn mới – phát thanh – thay vì chỉ đơn giản tạo ra khả năng truyền không dây thông điệp từ điểm này tới điểm kia, các công nghệ ảnh số tạo ra một dạng thông tin hoàn toàn mới.

Paul Conway – Trưởng phòng, Phòng Bảo quản, Thư viện Trường Đại học Yale

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *