Tài liệu lưu trữ đảng – nguồn sử liệu chính trong việc nghiên cứu biên soạn lịch sử đảng bộ địa phương

Các tác phẩm sử học này đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và của đất nước; góp phần xây dựng một thế giới quan khoa học cách mạng không những cho hiện tại mà còn cho các thế hệ tương lai. Trong quá trình nghiên cứu và biên soạn lịch sử đảng bộ địa phương, những người nghiên cứu phải sử dụng nhiều nguồn sử liệu khác nhau, trong đó tài liệu lưu trữ Đảng là nguồn sử liệu đóng vai trò quan trọng và chủ yếu. Bài viết này của chúng tôi xin nêu vài nét về nguồn tài liệu lưu trữ đảng, về việc sử dụng tài liệu lưu trữ đảng để nghiên cứu và biên soạn lịch sử đảng bộ trong thời gian qua.

1. Tài liệu lưu trữ Đảng, vị trí của nó trong nghiên cứu, biên soạn lịch sử đảng bộ địa phương
Có thể nói, đây là vấn đề nhận thức đúng đắn của các nhà nghiên cứu lịch sử nói chung, trong đó có những người nghiên cứu và biên soạn lịch sử đảng bộ địa phương. Chúng ta đều biết rằng, trong nghiên cứu lịch sử, các nhà sử học đã sử dụng nhiều nguồn sử liệu khác nhau: sử liệu chữ viết, sử liệu vật thật, sử liệu truyền miệng, v. v…
Để hiểu bản chất của nguồn sử liệu, chúng ta nên xác định thế nào là nguồn sử liệu nói chung và sử liệu – tài liệu lưu trữ Đảng nói riêng. Thực tế nghiên cứu lịch sử cho thấy, theo nghĩa rộng, nguồn sử liệu là tất cả những gì chứa đựng những thông tin về quá khứ hoạt động của con người trong điều kiện tự nhiên và xã hội nhất định. Theo ý kiến của nhà sử học Ba Lan Topolski thì “Nguồn sử liệu là mọi thông tin về đời sống con người trong quá khứ cùng với các kênh thông tin”. Có thể lấy thí dụ: Nghị quyết 15 của Trung ương ngày 13.01.1959 về đường lối cách mạng Việt Nam ở miền Nam là kênh chứa đựng thông tin về đường lối, phương hướng, phương châm đấu tranh cách mạng của Đảng ta, nhân dân ta trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước; Chỉ thị cuối năm 1958 của Liên khu ủy V về xây dựng căn cứ miền núi là kênh chứa đựng thông tin về chủ trương đẩy mạnh phong trào đấu tranh ở miền núi, xây dựng căn cứ địa ở miền núi để bảo tồn và phát triển lực lượng vũ trang ở miền Nam Trung bộ.
Ta có thể khai thác tin trên một kênh dưới nhiều góc độ khác nhau và khai thác cùng một tin qua nhiều kênh khác nhau. Theo nghĩa hẹp, nguồn sử liệu – tài liệu lưu trữ Đảng là những tài liệu được hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức Đảng, của các đồng chí lãnh đạo chủ chốt và các đảng viên tiêu biểu của Đảng được bảo quản cố định trong các kho lưu trữ Đảng. Những sử liệu – tài liệu lưu trữ này phản ánh những thông tin về quá khứ, phản ánh chủ trương, đường lối, sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta kể từ khi có Đảng, phản ánh tình hình cách mạng Việt Nam, tình hình tổ chức và xây dựng Đảng ở các cấp.
Trên cơ sở các khái niệm theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp về nguồn sử liệu, chúng ta có thể thấy tài liệu lưu trữ được sinh ra không phải nhằm mục đích để làm sử liệu, mà chúng sinh ra trước hết là do nhu cầu của thực tiễn cuộc sống đòi hỏi. Như vậy, chúng phải được xem xét như là những hiện tượng xã hội được sinh ra trong những hoàn cảnh nhất định. Thí dụ: Nhóm tài liệu văn kiện phản ánh những quyết sách quan trọng về đường lối cách mạng Việt Nam ở miền Nam của Đảng ta như Nghị quyết 15 ngày 13.01.1959 của Ban Chấp hành Trung ương, Đề cương cách mạng miền Nam của đồng chí Lê Duẩn, Nghị quyết hội nghị Liên khu ủy V năm 1958, Chỉ thị cuối năm 1958 của Liên khu ủy V về xây dựng căn cứ miền núi… Những tài liệu văn kiện này phản ánh rõ nét con đường phát triển của cách mạng Việt Nam  giai đoạn 1959 – 1961 là con đường bạo lực của quần chúng, dựa vào lực lượng của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang đánh đổ đế quốc Mỹ và tay sai, giành lấy chính quyền về tay nhân dân. Với những nhận định đúng đắn ấy, cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã chuyển sang một cục diện mới. Và từ đó, thế và lực của cách mạng không ngừng phát triển.
Đây là một nhóm tài liệu văn kiện trực tiếp phản ảnh chủ trương, đường lối của Đảng ta, Nhà nước ta trong thời kỳ đấu tranh giành thống nhất nước nhà. Chúng trở thành nguồn sử liệu khi ta đặt vấn đề thông qua chúng để nghiên cứu lịch sử kháng chiến ở các tỉnh miền Nam Trung bộ nói riêng và tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta nói chung. Từ đó ta thấy, khi chưa trở thành sử liệu, tài liệu văn kiện Đảng là phương tiện thực hiện những nhiệm vụ thực tiễn trong hoạt động có mục đích của con người, cho nên có thể nói: phục vụ thực tiễn là sự sống đầu tiên của sử liệu. Điều này có nghĩa là khi nghiên cứu sử liệu phải đặt nó vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể đã sản sinh ra nó và thấy được hoàn cảnh ấy đã tác động, chi phối như thế nào đối với nội dung và hình thức của sử liệu; và sử liệu đã phản ánh thực tại ấy ở mức độ nào. Có làm được như vậy mới nhận thức được bản chất của hiện tượng, sự kiện, đối tượng nghiên cứu của khoa học lịch sử. Đây chính là sự tồn tại khách quan, độc lập của sử liệu đối với chủ thể nhận thức và cho thấy sử liệu có một vị trí quan trọng trong quá trình nhận thức lịch sử.
Như chúng ta đã biết, trong quá trình nghiên cứu và biên soạn lịch sử Đảng, chúng ta phải đụng chạm đến những sự kiện, những giai đoạn lịch sử đòi hỏi phải lý giải chúng trên một quan điểm tiến bộ và bằng một phương pháp khoa học, có nghĩa là chúng ta phải nhìn nhận mỗi sự kiện, hiện tượng là cái khách thể của tự nhiên và xã hội có sự phát sinh, phát triển không phụ thuộc vào ý thức của con người. Có quan điểm đúng đắn và phương pháp khoa học sẽ giúp cho công trình sử học không bị rơi vào tình trạng dựng nên một bức tranh phi thực tế, mà còn chỉ ra đúng bản chất của sự kiện, hiện tượng. Vấn đề được bàn tới trong nghiên cứu, biên soạn lịch sử là những sự kiện, hiện tượng đã xảy ra. Việc nghiên cứu những sự kiện này xuất phát từ một số yếu tố như: sự kiện chưa được biết tới; sự kiện chưa được hiểu một cách đúng đắn; sự kiện chưa được hiểu đầy đủ. Giải quyết những vấn đề này là một trong những nhiệm vụ quan trọng của khoa học lịch sử. Và để giải quyết được những vấn đề trên không thể không dựa vào các nguồn sử liệu, mà tài liệu lưu trữ là nguồn sử liệu chủ đạo và quan trọng nhất. Nói như thế, không có nghĩa là kết quả nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng chỉ hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn sử liệu. Điều hiển nhiên là nếu không có tri thức riêng của người nghiên cứu thì sử liệu chỉ là những hiện tượng rời rạc, ngược lại, không có sử liệu thì người nghiên cứu không thể đem tri thức của mình để dựng nên một bức tranh lịch sử thực tế. Qua đó, rõ ràng nguồn sử liệu là điều kiện để người nghiên cứu đặt vấn đề và giải quyết vấn đề nghiên cứu lịch sử đảng bộ một cách hiệu quả.      
Có thể lấy thí dụ, trên thực tế, khi nghiên cứu về phong trào “Đồng khởi” ở miền Nam trong những năm chống Mỹ cứu nước thì việc sử dụng các sử liệu – tài liệu lưu trữ là rất cần thiết. Các nhà nghiên cứu hiện nay và sau này đều phải hướng sự chú ý của mình vào việc khai thác và sử dụng các nguồn sử liệu – tài liệu lưu trữ bảo quản ở các kho lưu trữ tỉnh ủy Bến Tre, Bình Định, Quảng Ngãi,… là những địa bàn được xem là nơi mở đầu và là ngọn cờ tiêu biểu cho phong trào “Đồng khởi” ở miền Nam nước ta trước ngày giải phóng. Hoặc trong công trình nghiên cứu lịch sử chiến khu D, tài liệu lưu trữ của Tỉnh ủy Tây Ninh, Đồng Nai, Sông Bé được sử dụng như những bằng chứng lịch sử, đã góp phần đánh giá đúng tầm vóc của một căn cứ địa nổi tiếng, một trung tâm kháng chiến, một hậu phương chiến lược tại chỗ của quân và dân miền Đông Nam bộ dưới sự lãnh đạo của Đảng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Có thể nói, tài liệu lưu trữ Đảng được coi là nguồn sử liệu quý giá và quan trọng nhất trong nghiên cứu và biên soạn lịch sử đảng bộ địa phương bởi những đặc thù riêng của nó so với các nguồn sử liệu khác. Tài liệu lưu trữ Đảng được coi là những nhân chứng lịch sử, bởi lẽ nó được sản sinh ra gần như đồng thời với các sự kiện, hiện tượng lịch sử và do nhu cầu khách quan của mọi hoạt động trong quá khứ. Vì vậy, tài liệu lưu trữ đảng tự thân nó đã mang tính chân thực, phản ánh sự việc, hiện tượng một cách khách quan với tư cách là những tài liệu văn kiện chính thức – những tài liệu có giá trị được lựa chọn từ khối tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng. Những đặc trưng đó của tài liệu lưu trữ đảng đã giúp các nhà nghiên cứu lịch sử tiếp cận với sự thật lịch sử. Và chính vì sự thật lịch sử bao giờ cũng là mục tiêu quan trọng nhất của bất kỳ một công trình nghiên cứu lịch sử nào, cho nên vai trò to lớn của tài liệu lưu trữ đảng được các nhà nghiên cứu mặc nhiên thừa nhận và trân trọng.

2. Vài nét về việc sử dụng tài liệu lưu trữ Đảng trong nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ địa phương
Trong những năm gần đây, nhu cầu nghiên cứu và biên soạn lịch sử đảng bộ địa phương đã trở thành phổ biến. Các công trình nghiên cứu lịch sử đảng bộ địa phương đi sâu nghiên cứu sự ra đời của các tổ chức đảng, của phong trào cách mạng địa phương; mối quan hệ khăng khít giữa phong trào cách mạng địa phương với phong trào cách mạng chung trong cả nước; những vấn đề về quá trình lãnh đạo của các đảng bộ và các cấp chính quyền địa phương trong việc thực hiện các chính sách kinh tế – chính trị – xã hội.
Thời gian qua, việc nghiên cứu và biên soạn lịch sử Đảng ở các địa phương đang trên đà phát triển và đạt được một số kết quả nhất định. Đã có 28 tỉnh, thành phố hoàn thành việc biên soạn và xuất bản lịch sử đảng bộ đến năm 1975, 13 tỉnh, thành phố – đến giai đoạn 1954. Các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đã có 396 đơn vị hoàn thành việc biên soạn và xuất bản lịch sử đảng bộ hoặc lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng của đảng bộ. Mỗi công trình nghiên cứu lịch sử Đảng bộ đã thật sự là một bộ phận cấu thành của lịch sử toàn Đảng.  Lịch sử  Đảng bộ đã dựng lại lịch sử ra đời, quá trình hoạt động của từng đảng bộ qua các thời kỳ cách mạng diễn biến ở nhiều địa phương trong cả nước; khẳng định rõ nhiều thời điểm, sự kiện và nhân vật có liên quan, bổ sung nhiều mảng còn thiếu trong lịch sử toàn Đảng; đã chú trọng tổng kết lịch sử địa phương, gắn phong trào của địa phương với phong trào chung do Đảng lãnh đạo. Nhiều công trình lịch sử đảng bộ mang tính khoa học cao với cơ sở sử liệu phong phú, chính xác được giám định nghiêm túc.
Tuy nhiên, điểm qua các công trình đã xuất bản của các đảng bộ địa phương vẫn còn một số tác phẩm nghiên cứu, biên soạn sơ lược, thiếu tính tổng kết nên chưa có được những bài học lịch sử. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, nhưng đáng kể nhất, theo chúng tôi là sự nghèo nàn về sử liệu dẫn đến giản đơn trong khái quát, sơ lược trong cách lý giải các sự kiện lịch sử và quá trình lịch sử. Mặc dù nguồn sử liệu của lịch sử nước ta khá phong phú, nhưng trong thời gian qua, chúng được sử dụng trong một số công trình lịch sử đảng bộ còn quá ít. Nhiều nguồn sử liệu khác ngoài chữ viết chưa được sử dụng, đặc biệt là trong thời kỳ cận hiện đại Việt Nam. Trong thực tế, không ít nhà viết sử đảng còn tự hạn chế mình khi tìm kiếm các khả năng khai thác sử liệu cũng như phương pháp tiếp cận với giá trị thực sự của mỗi nguồn sử liệu cụ thể.
Có thể lấy thí dụ: trong tiến trình lịch sử, nhất là trong giai đoạn vận động cách mạng, nhiều đảng bộ có mối quan hệ khăng khít với nhau về quá trình hình thành và phát triển nhưng trong công trình lịch sử đảng bộ của mình lại chưa được phân tích, lý giải bằng các nguồn sử liệu có độ tin cậy cao hoặc trong kháng chiến chống thực dân Pháp, sự chỉ đạo của Khu ủy, Liên khu ủy còn chưa được trình bày rõ trong một số tác phẩm lịch sử đảng bộ. ở một vài công trình khác lại nặng về mô tả sự kiện, thậm chí sự kiện này phủ nhận sự kiện kia, hoặc sử dụng nhiều loại hình sử liệu khác nhau nhưng phương pháp tiếp cận chưa đảm bảo tính khoa học. Thậm chí, có tác phẩm lịch sử đảng bộ huyện còn không ít sự kiện chưa chính xác về thời gian xảy ra, chưa được hiểu đúng và đầy đủ về diễn biến của sự kiện do có khó khăn trong việc khai thác các nguồn sử liệu, do các cuộc tọa đàm rộng rãi bao gồm các nhân chứng từng tham gia công tác lãnh đạo ở địa phương chỉ cho phép hình dung những nét chung nhất, những nhận định khái quát về một số thời điểm hay từng giai đoạn nhất định. Sự vắng mặt của tài liệu lưu trữ Đảng trong trường hợp trên đã dẫn đến kết quả là tác phẩm lịch sử đảng bộ thiếu những cứ liệu quan trọng, thiếu tính chính xác và khoa học, đôi khi chỉ là sự chắp vá khiên cưỡng và chủ yếu là những sự kiện, những nhận xét, đánh giá chung chung.
3. Một vài suy nghĩ và kiến nghị
Qua việc sử dụng tài liệu lưu trữ Đảng trong nghiên cứu, biên soạn lịch sử đảng bộ địa phương, bước đầu chúng tôi xin nêu một số ý kiến sau đây
– Hiện nay, việc nghiên cứu và biên soạn lịch sử đảng bộ đang có nhu cầu phát triển. Điểm qua một số tác phẩm lịch sử đảng bộ địa phương, chúng tôi thấy các nhà viết sử đã thực sự nhận thức đúng và sử dụng tài liệu lưu trữ Đảng như một nguồn sử liệu quan trọng và chủ yếu nhất. Nhưng bên cạnh đó, việc chú thích rõ xuất xứ nguồn sử liệu này chưa được chú ý đúng mức. Do đó, phần nào giảm nhẹ vai trò của tài liệu lưu trữ Đảng và độ tin cậy của tác phẩm.
– Việc sử dụng tài liệu lưu trữ Đảng trong nghiên cứu, biên soạn lịch sử đảng bộ địa phương đòi hỏi sự nghiêm túc và thời gian, công sức của các nhà nghiên cứu trong việc tổng hợp, thông tin, phân tích, đối chiếu với các nguồn sử liệu khác để có được những nhận xét, đánh giá chính xác và khoa học.
– Thực tế biên soạn lịch sử đảng bộ địa phương cho thấy công tác lưu trữ tài liệu ở các cấp ủy còn nhiều hạn chế. Đặc biệt ở cấp cơ sở, phần nhiều tài liệu không đầy đủ, lại bảo quản phân tán. Tài liệu về thời kỳ trước cách mạng, trong kháng chiến chống Pháp,… ở cả huyện và tỉnh đều rất ít và tản mạn. Tài liệu của thời kỳ gần đây cũng không thật đầy đủ, lại chưa được thu thập, chỉnh lý hoàn chỉnh nên ít nhiều gây khó khăn cho người nghiên cứu. Đó cũng là những vấn đề cần thiết đặt ra cho ngành lưu trữ các cấp. Để có thể giúp cho công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử đảng bộ được thuận lợi và có hiệu quả cao, ngành lưu trữ cần chủ động hơn nữa trong công tác tổ chức và sử dụng tài liệu lưu trữ như sưu tầm, thu thập, bảo quản tài liệu, đẩy mạnh việc giới thiệu công bố tài liệu văn kiện và mở rộng khả năng khai thác sử dụng cho giới nghiên cứu.
Trên đây là những ý kiến nhận xét bước đầu của chúng tôi về nguồn sử liệu – tài liệu lưu trữ đảng, về việc sử dụng nó để nghiên cứu và biên soạn lịch sử đảng bộ trong thời gian qua. Rất mong nhận được sự trao đổi, góp ý của độc giả để góp phần nâng cao vai trò của tài liệu lưu trữ Đảng và chất lượng cuả các công trình nghiên cứu, biên soạn lịch sử đảng bộ địa phương.   

Hà Nội, 1999

Nguyễn Lệ Nhungwww.vanthuluutru.com

Leave a Reply