Về mối liên hệ giữa văn bản học và sử liệu học

Khi nói về mối liên hệ giữa văn bản học và sử liệu học, chúng ta nhớ đến một cuộc tranh luận đã xảy ra ở Liên Xô cách đây 15 năm. Nhiều người trong chúng ta ở đây chắc đã biết đến quyểnVăn bản học nổi tiếng của Viện sĩ Đ.S. Li-khát-chốp xuất bản năm 1962(2). Trong quyển này, tuy dựa vào các tài liệu văn bản Nga và Slave cổ, Li-khát-chốp đã nêu lên những nguyên lý chung của văn bản học. Nhưng có lẽ vì là một chuyên gia về lịch sử văn học Nga cổ, Li-khát-chốp đã coi văn bản học như một bộ môn của khoa học ngữ văn. Rõ ràng vấn đề vị trí của văn bản học giữa các khoa học thật đáng được thảo luận. Thế rồi, năm 1966 trên tạp chí Lịch sử Liên Xô, xuất hiện bài báo của S.N. Az-bê- lép với đầu đề “Văn bản học như là một bộ môn phụ trợ của khoa học lịch sử”(3). Ngay lập tức, cũng trên tờLịch sử Liên Xô, Li-khát-chốp đã viết bài phê phán bài báo của Az-bê-lép. Ông tiếp tục coi văn bản học là một bộ môn thuộc khoa học ngữ văn chứ không phải là một bộ môn thuộc khoa học lịch sử(4). Nhưng gần mười năm sau, Li-khát-chốp lại giữ một lập trường có khác trước. Trong bài báo “Về một số nhiệm vụ cấp thiết của các khoa ngữ văn chuyên biệt” đăng trên tờ “Tin tức Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô” năm 1976, Li-khát-chốp viết rõ ràng như sau: “Văn bản học là một bộ phận cấu thành của sử liệu học lịch sử, không những quan trọng đối với các nhà ngữ văn mà cả đối với các nhà sử học(5).

Như vậy là vấn đề mối liên hệ giữa văn bản học và sử liệu học đã không tách rời vấn đề vị trí và đối tượng của hai khoa học này. Riêng tôi, tôi nghĩ rằng các nhà ngữ văn và các nhà sử học không nên tranh giành môn văn bản học về phía mình. Trên tạp chí “Lưu trữ Liên Xô” năm 1976, V.A. Tche-r-nykh đã có một lập trường dung hòa khi coi văn bản học là một bộ môn khoa học ngữ văn – lịch sử chuyên biệt(6). Nói thế dường như nghe cũng được nhưng thực ra chưa phải. Theo tôi, văn bản học là khoa học không thể xây dựng và hoạt động nếu không sử dụng các tri thức ngữ văn và lịch sử, nhưng nó không phải là một bộ phận của ngữ văn hay sử học, hoặc của cả hai, mà là một khoa học độc lập, phục vụ cho tất cả những khoa học nào có mối liên hệ với văn bản, không chỉ riêng các khoa học xã hội như triết học, sử học, văn học, ngôn ngữ học…mà cả các khoa học tự nhiên như y học, dược học, nông học…Chẳng hạn, gần đây, tôi được đọc bài báo thú vị của giáo sư Đào Văn Tiến, nhà sinh học, viết về các động vật trắng (albiniques) và đen (mélaniques) ở Việt Nam, dựa vào sự thống kê các động vật cống cho vua Lý trong khoảng từ năm 1032 đến năm 1166, được chép trong Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên(7).Như vậy theo tôi, văn bản học chẳng phải của riêng ai; nó là nó, nhưng lại cho tất cả.

Từ một sự nhìn nhận như vậy, tôi muốn nói về mối liên hệ giữa văn bản học và sử liệu học. Đó là hai khoa học có đối tượng khác nhau: đối tượng của sử liệu học là sử liệu, còn đối tượng của văn bản học là văn bản. Đối với các nhà sử học thì tất cả những vết tích do hoạt động của con người tạo ra (cũng như những vết tích tự nhiên nói lên môi trường hoạt động của con người) đều là sử liệu dùng để khôi phục lịch sử của con người. Văn bản cũng là một kết quả hoạt động của con người, do đó cũng là một loại sử liệu, sử liệu viết. Tất nhiên, đối với nhà sử học, sử liệu có nhiều loại. Theo cách phân chia truyền thống có tính quy ước thì sử liệu có 6 loại: 1. Sử liệu vật thực; 2. Sử liệu hình ảnh (mà ngày nay bao gồm cả sử liệu photo-cino-phono); 3. Sử liệu dân tộc học; 4. Sử liệu ngôn ngữ học; 5. Sử liệu truyền miệng; 6. Sử liệu viết.

Văn bản hay sử liệu viết là một loại sử liệu vô cùng quan trọng trong việc nghiên cứu lịch sử. Như vậy, văn bản cũng là một đối tượng của sử liệu học, với tư cách là một bộ môn của khoa học lịch sử.

Nhưng không thể vì văn bản là một đối tượng của sử liệu học mà coi văn bản học là một bộ môn của sử liệu học. Văn bản là đối tượng của sử liệu học khi nó mang tư cách của sử liệu, được các nhà sử học nghiên cứu. Nhưng không phải bao giờ văn bản cũng được nghiên cứu với tư cách là sử liệu. Con người còn nghiên cứu văn bản với những mục đích khác. Văn bản học khác với sử liệu học là vì vậy.

Nhưng một mặt, không thể đồng nhất sử liệu học với văn bản học, hoặc bao gồm văn bản học vào trong sử liệu học, thì mặt khác, lại phải thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa sử liệu học và văn bản học. Một lẽ đơn giản: cả hai cùng nghiên cứu văn bản.

Đáng tiếc là cho đến nay, tuy đã có rất nhiều sách viết về văn bản học, nhưng bản thân khái niệm văn bản lại không được định nghĩa rõ ràng. Theo tôi, có thể định nghĩa văn bản là một bản tin được truyền đạt bằng ký hiệu ngôn ngữ. Ngôn ngữ thì có thể là tự nhiên hay nhân tạo, và trong nghĩa hẹp của văn bản mà người ta thường dùng trong khoa văn bản học thì ký hiệu của ngôn ngữ là chữ viết. Do đó, một chữ cũng có thể là một văn bản, cái quan trọng là ở bản tin mà nó truyền đạt. Nói đến bản tin là nói đến các thông tin chứa đựng trong đó. Mà thông tin thì có nhiều loại.

Định nghĩa văn bản một cách tổng quát như vậy, ta sẽ thấy được sự khác biệt giữa cách nghiên cứu văn bản nói chung và cách nghiên cứu văn bản của nhà sử học. Văn bản chứa đựng nhiều thông tin, nhưng nhà sử học chỉ khai thác ở đó những thông tin về quá khứ (mặc dầu quá khứ của nhà sử học có thể kể cả ngày hôm qua hay giờ vừa qua, thì vẫn là quá khứ!).

Đối với nhà sử học thì tất cả những gì chứa đựng thông tin về quá khứ của con người đều là sử liệu. Văn bản mà trở thành sử liệu là cũng vì bên cạnh những thông tin khác, nó còn chứa đựng những thông tin về quá khứ.

Nhưng thông tin bao giờ cũng được truyền đi bằng kênh thông tin. Không có kênh, thông tin sẽ không truyền đạt, tôi hoàn toàn đồng ý với J. Topolski, nhà sử học Ba Lan, khi ông coi sử liệu là mọi thông tin về quá khứ xã hội cùng với những gì mà các thông tin đó truyền đạt, tức là các kênh thông tin(8).

Chẳng hạn, khi ta biết những người có sự kiện lịch sử nào đó qua một tấm bia cổ, thì không chỉ những thông tin về sự kiện đó là sử liệu, mà bản thân tấm bia cũng là sử liệu. Trong trường hợp ta biết về sự kiện nào đó qua một câu chuyện kể, thì câu chuyện là thông tin, và người kể là kênh thông tin. Nhà sử học phê phán sử liệu tức là đánh giá các kênh thông tin thì trước hết phải đánh giá kênh thông tin.

Khi coi văn bản là bản tin, tôi cũng nghĩ rằng phải coi văn bản là bao gồm thông tin và kênh thông tin. Có điều là thông tin trong văn bản không chỉ giới hạn trong thông tin về quá khứ. J. Topolski có phân biệt rằng trong sử liệu viết, các nhà sử học đọc được các thông tin ngữ nghĩa, còn trong các loại sử liệu khác, thông tin phi ngữ nghĩa(9). Nhưng nếu quan niệm rằng văn bản là bao gồm cả thông tin và kênh thông tin, thì không phải lúc nào ta cũng nhận được ở văn bản những thông tin ngữ nghĩa. Nếu văn bản là bao gồm cả nội dung lẫn giấy, mực và các hình thức tạo nên nó thì hoàn toàn có thể nhận được từ đó những thông tin phi ngữ nghĩa.

Từ chỗ coi sử liệu cũng như văn bản, bao gồm cả thông tin, lẫn kênh, chúng ta thấy rõ hơn mối quan hệ chặt chẽ giữa phương pháp xử lý văn bản và phương pháp xử lý sử liệu.

Chúng ta biết rằng, văn bản học cũng như sử liệu học đều có mầm mống từ lâu đời, trong thời cổ đại, nhưng cả hai khoa học này chỉ thực sự trở thành khoa học vào nửa cuối thế kỷ 19 ở châu Âu, dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của trào lưu thực chứng chủ nghĩa. Thời đó – và ngày nay ở Tây Âu cũng vậy, văn bản học được gọi là phê phán văn bản (critique des texts) và sử liệu học được gọi là phê phán sử liệu (critique des sources). Các từ phê phán đó nảy nở trong cái khí hậu tinh thần thực chứng của thế kỷ 19. Ngày nay, chúng ta phải xây dựng văn bản học và sử liệu học trên lập trường phản thực chứng từ phía mác-xít, nhưng không gạt bỏ hoàn toàn những thành tựu đã đạt được của khoa học này từ thế kỷ 19.

Từ cuối thế kỷ 19 cho đến nay, các nhà phương pháp đã chia việc phê phán sử liệu thành hai bước: Bước thứ nhất được gọi làphê phán bên ngoài (critique externe), tức bước xác định niên đại, nguồn gốc, tính chân giả của sử liệu, cũng như khôi phục văn bản đúng dắn của nó. C. Langlois và C. Seignobos còn gọi phê phán bên ngoài là phê phán uyên bác (critique d’érudition) và chia làm hai khâu: phê phán khôi phục (critique de restitution) và phê phán xuất xứ (critique de provenance)(10).

Bước thứ hai được gọi là phê phán bên trong (critique interne), tức là bước xác định các thông báo về các sự kiện trong nội dung sử liệu có đúng đắn hay không.

Nếu ta coi sử liệu là bao gồm thông tin và kênh thông tin, thì sẽ dễ dàng nhận ra rằng phê phán bên trong là phê phán thông tin và phê phán bên ngoài là phê phán kênh.

Muốn phê phán thông tin, phải biết kênh có chính xác hay không. Không thể có những thông tin chân thật trong một tài liệu giả mạo. Thế nhưng trong một tài liệu thật, vẫn có thể có những thông tin không đúng. Vì vậy, hai bước phê phán nói trên đề ra cho sử học là rất cần thiết.

Đối với sử liệu viết, ở bước thứ nhất, tức bước phê phán bên ngoài hay phê phán kênh, có thể nói là nhà sử liệu học đã sử dụng những công cụ của văn bản học, hay nói cách khác, đã đem phương pháp văn bản học làm phương pháp của mình, ở giai đoạn phê phán bên trong hay phê phán thông tin, nhà sử học ít sử dụng các phương pháp văn bản học hơn. Nói ít không có nghĩa là hoàn toàn không, vì cả hai giai đoạn phê phán sử liệu này không có ranh giớỉ rõ rệt trong thực tế mà luôn gắn với nhau. Chẳng hạn, đánh giá thông tin sử liệu cũng có nghĩa là đánh giá người thông tin, mà người thông tin chính là tác giả sử liệu. Chính vì vậy mà việc xác định tác giả sử liệu được nhà sử học này coi là phê phán bên ngoài (phê phán xuất xứ), còn nhà sử học kia thì coi là phê phán bên trong. Và mọi người đều biết, tìm tác giả văn bản cũng là một nhiệm vụ văn bản học.

Như vậy, ta đã thấy sự gắn bó về mặt phương pháp giữa văn bản học và sử liệu học (viết), nhất là ở mức phê phán kênh.

Nhưng như vậy có phải là nhà sử học xuất phát ở chỗ mà nhà văn bản học dừng lại hay không? Không hẳn thế! Thật khó phân biệt được điểm dừng lại và điểm xuất phát. Nếu một văn bản đó được phê phán tốt, nhà sử học có thể dựa vào thành quả của các nhà văn bản học mà tiếp tục khai thác và đánh giá những thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu của mình mà không phải tiến hành từ bước phê phán văn bản. Nhưng chính để làm tốt công việc phê phán văn bản, nhà văn bản học lại không thể không đọc, giải và đánh giá mọi thông tin chứa đựng ở trong văn bản. Đôi khi, nhà văn bản học phải làm việc với một tập thể nhiều chuyên gia, không riêng gì nhà sử học.

Giờ đây, chúng ta đang cố gắng xây dựng khoa học văn bản Hán Nôm. Hội nghị văn bản học Hán Nôm hẳn là bước đầu thực hiện mục đích đó. Chúng ta có thể và nên xây dựng văn bản học Hán Nôm từ hai phía, từ những nguyên lý chung của văn bản học và từ những đặc điểm cụ thể của văn bản Hán Nôm. Hoàn toàn không nên coi nhẹ phía nào. Trong công việc xây dựng này, một sự hợp tác giữa các nhà nghiên cứu khoa học khác nhau có liên hệ với văn bản Hán Nôm là rất cần thiết. Các nhà sử học đã từng xử lý các sử liệu Hán Nôm rõ rang có thế dóng góp phần mình vào việc này.

Điều đó chỉ có lợi cho họ, vì phương pháp văn bản học Hán Nôm càng được hoàn thiện, họ càng có những công cụ tốt hơn trong việc phê phán sử liệu. Mặt khác, trong quá trình phê phán sử liệu Hán Nôm, các nhà sử học cũng có thể đi tới kết luận có ích cho phương pháp sử liệu học, mà cũng có ích cho phương pháp văn bản học Hán Nôm.

Xin nêu một thí dụ. Chắc ai cũrg biết rằng trong văn bản học phương Tây, ở những nơi có văn tự ghi theo âm vị, có một hiện tượng thường làm đau đầu các nhà văn bản học là sự dính liền nhau của các con chữ, do đó, là của các từ, và như vậy, thị thành có thể đọc là thịt hành! Người ta mừng là trong các văn bản chữ khối vuông như chữ Hán, chữ Nôm, hiện tượng đó ít xảy ra. Nhưng các nhà sử học thì đã biết đến một người con vua Lý được chép trong Đại Việt sử ký toàn thư với tên là Lý Nhật Quang và cũng người đó được các thần tích ở Nghệ Tĩnh chép với tên là Lý Hoảng. Như vậy là khối chữ vuông cũng có thể dính lại với nhau, gây ra sự lầm lẫn. Thậm chí, có khi chỉ một bộ phận chữ này dính với một bộ phận của chữ kia. Như khi đọcNguyên sử, tôi đã gặp một tên sứ Nguyên đến Việt Nam năm 1291 tên là Oai-đầu. Nhưng thực ra không có người nào tên là Oai-đầu cả. Oai-đầu chỉ là do chữ Bất Nhan – tức Buyan Temur viết nhầm do một góc bên phải của chữ Nhan dính liền với chữ Bất ở trên.

Như vậy, các nhà sử học ít nhiều có thể làm các nhà văn bản học cảnh giác hơn với hiện tượng dính.

Nói đến văn bản Hán Nôm, tôi thường nghĩ đến các bản sao. Mà tam sao thì thất bản! Khi nói về hiện tượng này, người ta thường dẫn câu sau đây trong Bảo phác tử, Nội thiên: “Thư tam tả, ngư thành lỗ, đế thành hổ”. Câu cũng dễ hiểu: sách chép ba lần thì chữ ngư biến thành chữ lỗ, chữ đê’ biến thành chữ hổ. Nhưng ngư thành lỗ thì hiểu được, vì chữ ngư là một phần của chữ lỗ. Điều không rõ là vì sao đế lại biến thành hổđược. Vì vậy, khi sao chép Bảo phác tử, nhiều người cho rằng ở đây hẳn đã có chỗ sai và đã chữa là “hư thành hổ”, vì chữ hưgần giống chữ hổ. Mãi đến gần đây, khi nhiều văn bản Tần Hán được phát hiện, như các sách lụa ở mộ Mã Vương Đôi, Hồ Nam, ta mới gặp được chữ đế được viết rõ ràng gần với chữ hổ. Thật là oái ăm khi chính câu nói về các sai lầm do sao chép lại mang những sai lầm do sao chép! Nhưng điều tôi muốn nói ở đây là các tri thức ngữ văn cần được bổ sung bằng các phát hiện lịch sử.

“Lỗ, ngư, thỉ, hợi” là chuyện văn bản học Hán. Văn bản Hán Việt và Nôm chắc còn có những sai lầm theo quy luật khác. Chẳng hạn, trong Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn, câu “Điều tất tác tượng các cục” (Điều các cục thợ sơn) có bản chép nhầm thành“Điều tất các tượng cục”, ở đây cái âm thanh lục cục lạc cạc đó ảnh hưởng đến sự chép sai này. Và đây là âm Hán – Việt. Như vậy, chi tiết này cũng nói lên rằng văn bản Hán Việt Nam cũng có những lỗi khác với những văn bản Hán Trung Quốc, do những quy luật riêng.

Tôi không dám đi vào các vấn đề khác của vàn bản học Hán Nôm vì xa với chủ đề bài này. Nhưng đã nói đến các sai lầm trong văn bản Hán Nôm, tôi bất giác nhớ đến hai câu thơ của Nguyễn Trãi:

“Trường văn nằm ngả mấy thu dư

Uổng tốn công nhàn biện lỗ ngư.”

Trong cái “trường văn bản” này thì công việc “biện lỗ ngư” chẳng phải là nhàn, nhưng có nhận thức được những đóng góp thiết thực của nó thì mới khỏi cái mặc cảm “uổng tốn công”. Nhưng cái lợi ích thiết thực của nó, đối với những người làm sử liệu hay làm sử nói chung, là rất lớn, không nói thì chắc mọi người cũng đã rõ.

————————————————

* Nguồn: Đến với LỊCH SỬ – VĂN HÓA VIỆT NAM, nhà xuất bản Hội nhà văn, Tác giả: HÀ VĂN TẤN.

(1) Đã in trong Một số vấn đề văn bản học Hán Nôm, nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1983.

(2) ’7Ị.C. JlHxaneB, TeKcmojiozuH. M-J] 1962.

(3) (C.H. A3ẽereB.TeKT0Ji0rHH KSK BcnoMraTcjriíHaa HCTopH’iecKas /iHCHHiijiMnato Mcmopux CCCP. 1967. No 4.)

(4) (A-C. JlHxaMea, Ho noBojjy CTâTbH C.H. A3ốer:eB “Tckto:io! hí¡ KaK HCiioMraTC.Ti.naa MCTopHMCCKaa HHCUHnJiHHaK)”’. Mcmopun CCCP. 1967. No 2).

(5) (JX-C. JlHxaneB. o HeKomopbix neomno.M’Hbix 3ct0anax cneifitajibHbix (juin0-7OỈU’lecKitx óucifumiiut. BecTHHK AH CCCP. 1976. No 4.)

(6) (B.A Mepnbix. OnpeỜẰieme apxeoppaộuu II eẽ Mecma e Kpvev cmexHbix nayHHbix ÒUCIỊUW1UH. CoBeTCKHeApxHBbi. 1976. No 6.)

(7) (Đào Văn Tiến: Sur les animaux albiniques et méaniques au Vietnam, Cahiers d’Études Vietnamiennes 4/1980, pp. 88-89.).

(8) J. Topolski: Metodologia histories, Bản dịch của Bộ Đại học, q.2, tr.93.

(9) J. Topolski, đã dẫn, tr 80.

(10) (Ch. Langlois et Ch. Seignobos: Introduction aux études historiques, Paris, 1898.)

Leave a Reply