Văn bản của Đảng – cơ sở để thể chế hóa đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quản lý Nhà nước

Văn bản là một trong những phương tiện quan trọng của hoạt động quản lý và lãnh đạo. Văn bản của Đảng là khái niệm chung dùng để chỉ tất cả các loại cương lĩnh chính trị, chiến lược kinh tế, nghị quyết, chỉ thị, quyết định và các loại công văn giấy tờ khác do các cơ quan Đảng ban hành phù hợp với thẩm quyền, đảm bảo đúng nguyên tắc, đã được quy định trong hệ thống tổ chức của Đảng. Về thực chất, văn bản của Đảng là hình thức cụ thể hóa quyết định của các cơ quan lãnh đạo Đảng các cấp nhằm thực hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với toàn bộ hệ thống chính trị. Văn bản của Đảng không có mục đích tự thân, chúng luôn luôn là phương tiện, công cụ và là sản phẩm của hoạt động có mục đích của Đảng, của mỗi cơ quan, tổ chức Đảng. Mỗi văn bản được ban hành đều gắn với một mục đích cụ thể, được quy định rõ bởi vị trí, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan ban hành văn bản đó.
Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, là lực lượng lãnh đạo chính trị đối với toàn xã hội, nên các văn bản chỉ đạo của Đảng trở thành cơ sở cho mọi quyết định, chủ trương của chính quyền các cấp. Văn bản của Đảng ở những mức độ khác nhau có tác động trực tiếp tới mọi mặt của đời sống xã hội. Đó là những văn bản xác định đường lối chiến lược, chủ trương chung; các chính sách tổng thể của từng thời kỳ để tạo ra sự thống nhất trong hành động. Nhiều văn bản trong số đó được coi là cơ sở, được thể chế hóa thành văn bản của Nhà nước để quản lý xã hội theo pháp luật như Cương lĩnh Chính trị, các nghị quyết Đại hội Đảng, các nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương v.v…
Đảng Cộng sản Việt Nam cùng với Nhà nước và các tổ chức đoàn thể chính trị-xã hội là những bộ phận hợp thành của hệ thống chính trị. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là phương tiện, là công cụ chủ yếu sắc bén để thông qua Nhà nước Đảng thực hiện sự lãnh đạo của mình đối với toàn xã hội. Nhà nước xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng – Nhà nước pháp quyền Việt Nam – dựa trên cơ sở mở rộng và tăng cường khối đoàn kết toàn dân; lấy liên minh công nông và trí thức làm nền tảng; Nhà nước của dân, do dân, vì dân, quản lý xã hội bằng luật pháp và dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong hệ thống chính trị của chủ nghĩa xã hội, Nhà nước giữ vị trí trung tâm và đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Sự lãnh đạo của Đảng thể hiện tập trung ở Nhà nước, được thực hiện thông qua Nhà nước. Sức mạnh của Đảng là sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, trong đó vị trí then chốt là Nhà nước do Đảng lãnh đạo.
Trong Cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa Đảng Cộng sản Việt Nam đóng vai trò là đội tiên phong chính trị của giai cấp công nhân, đồng thời trở thành người lãnh đạo toàn xã hội. Nhìn chung trong gần 70 năm qua, cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng đã cơ bản phản ánh được ý chí, nguyện vọng và những lợi ích chung của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc. Đảng lãnh đạo đất nước bằng cách đề ra cương lĩnh, chiến lược, đường lối, chính sách lớn trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đây chính là những quyết định, những tư tưởng chỉ đạo để Nhà nước vận dụng sáng tạo phù hợp với chức năng của mình.  
Dựa trên Cương lĩnh chính trị tháng 10 năm 1930 và nhiều nghị quyết quan trọng khác, Đảng đã lãnh đạo đất nước ta giành nhiều thắng lợi quan trọng trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, lập nên Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nước công – nông đầu tiên ở Đông Nam á. Sau Cách mạng  tháng Tám năm 1945, đến năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của chế độ cộng hòa dân chủ ở nước ta được chính Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì soạn thảo đã ra đời dựa trên cơ sở tư tưởng chỉ đạo nhạy bén của Đảng ta với việc xây dựng một nền hành chính vững mạnh, có hiệu lực theo đường lối đã vạch ra của Cương lĩnh chính trị.
Đến Cương lĩnh 1991, Đảng ta đã xác định: chủ nghĩa xã hội là một xã hội con người được giải phóng, nhân dân lao động làm chủ đất nước; có một nền kinh tế phát triển cao và nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; mọi người có cuộc sống ấm no hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; công bằng xã hội và dân chủ được đảm bảo; các dân tộc trong nước đoàn kết, bình đẳng và giúp đỡ lẫn nhau; có quan hệ hữu nghị với các dân tộc khác trên thế giới(1).  Những luận điểm cơ bản và tư tưởng khoa học, mục đích và nhiệm vụ, chính sách và biện pháp thực tiễn, phương hướng hành động,… của Cương lĩnh chính là cơ sở cho việc ban hành các chính sách xã hội và các chính sách kinh tế để thực hiện chức năng của Nhà nước, là những căn cứ và nhận thức để Nhà nước điều tiết các quan hệ xã hội, nhằm thực hiện việc tổ chức và lãnh đạo nền kinh tế quốc dân theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong số những văn bản được thể chế hóa, trước tiên phải kể đến Hiến pháp – đạo luật cơ bản, và các luật tổ chức Nhà nước, những nguyên tắc và quy định về cơ cấu tổ chức, các thiết chế quyền lực, cơ chế hoạt động và mối quan hệ giữa các thiết chế quyền lực ấy. Chúng tạo điều kiện để bộ máy Nhà nước ta vận hành phù hợp với điều kiện của giai đoạn phát triển hiện tại của đất nước và những thay đổi của tình hình quốc tế đang biến động.
Thành tựu của 10 năm đổi mới là thành quả phấn đấu của toàn dân, của sự năng động trong điều hành của Nhà nước, đặc biệt phải nói đến sự đúng đắn của đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội VI. Nó đã tạo ra bước ngoặt đi lên của cả dân tộc. Nhìn lại thời gian hơn 10 năm qua, các chủ trương của Đảng đã đi vào cuộc sống của nhân dân thông qua sự quản lý của Nhà nước bằng chính các bộ luật, pháp lệnh, các nghị định,… và sự điều hành ngày một năng động, có hiệu quả của chính các cơ quan Nhà nước.  
Thông qua Nhà nước, Đảng đã lãnh đạo thực hiện chính sách mở cửa về kinh tế. Luật đầu tư nước ngoài được ban hành nhằm khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đưa vốn, công nghệ, kinh nghiệm sản xuât, kinh doanh, quản lý… vào nước ta hợp tác, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển và đôi bên cùng có lợi.
Năm 1988, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 10 về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp và ngay từ khi ra đời đã được nhân dân hưởng ứng rộng rãi nên nghị quyết đã nhanh chóng đi vào cuộc sống. Chính sách kinh tế nhiều thành phần được Đảng lãnh đạo thông qua Nhà nước đã khuyến khích, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp, góp phần giải quyết tốt vấn đề nông thôn, nông dân, nông nghiệp. 
Nghị quyết Đại hội VIII và các nghị quyết Trung ương đã đề ra và khẳng định chủ trương cải cách doanh nghiệp Nhà nước trong đó việc thực hiện cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp Nhà nước, là một trong những giải pháp để đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước(2). Trên cơ sơ chủ trương đó, Chính phủ đã có những Nghị định (Nghị định 28-CP, Nghị định 44-CP) về cổ phần hóa. Từ khi có chủ trương thí điểm cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước đến nay, cả nước đã có 166 doanh nghiệp Nhà nước được cổ phần hóa(3) và hiện nay, việc cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước đang được tiếp tục thực hiện dưới sự chỉ đạo của Nhà nước.
Nghị quyết Hội nghị BCH Trung ương lần thứ năm (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trên thực tế đã là cơ sở, là nền móng cho việc xây dựng, ban hành luật pháp, ban hành các chính sách về văn hóa. Để Nghị quyết Hội nghị Trung ương V thực sự đi vào cuộc sống, Nhà nước đã và đang xây dựng các luật, pháp lệnh, các văn bản pháp quy điều chỉnh các hoạt động trên lĩnh vực văn hóa; bổ sung những luật đã ban hành cho phù hợp với tình hình mới; nghiên cứu xây dựng Luật di sản văn hóa dân tộc, Luật quảng cáo, Pháp lệnh thư viện, xây dựng chính sách kinh tế trong văn hóa, chính sách xã hội hóa hoạt động văn hóa, v. v…
Như vậy, xét về phương diện xã hội, Đảng lãnh đạo về chính trị trong mọi lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và các tổ chức xã hội bằng định hướng về đường lối và các chính sách của Đảng; Đảng lãnh đạo, tổ chức mọi lực lượng cách mạng trong xã hội thực hiện cho được đường lối, chủ trương mà Đảng đã đề ra. Còn Nhà nước do Đảng lãnh đạo, chức năng của Nhà nước là thể chế hóa bằng pháp luật quyền hạn, lợi ích, nghĩa vụ của nhân dân lao động và quản lý kinh tế, xã hội theo pháp luật(4). Trên cơ sở đó, Nhà nước quản lý, điều hành mọi mặt đời sống xã hội. Uy tín và quyền lãnh đạo của Đảng được thực hiện thông qua hoạt động của Nhà nước. Nhà nước mạnh, hoạt động có hiệu quả là điều kiện đầu tiên để Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo của mình đối với xã hội. Nâng cao năng lực, hiệu lực quản lý của Nhà nước chính là nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội.
Đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, chính là toàn bộ đường lối, chủ trương, chính sách lớn của Đảng được thể chế hóa thành chủ trương, chính sách, hiến pháp và pháp luật của Nhà nước.

———————————–

1. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nhà xuất bản  Sự thật, H., 1991, tr. 8-9.
2. Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu (lần 1) BCH Trung ương khóa VII. Nhà xuất bản  Chính trị quốc gia. H., 1998, tr. 35.
3. Xem báo Văn hóa số 450 ra ngày 10.03.1999, tr.2.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam – Văn kiện Đại hội Đại biểu lần thứ VI. Nhà xuất bản Sự thật, H., 1987. tr. 117.

Hà Nội, 2000

Nguyễn Lệ Nhung – VPTW Đảng

www.vanthuluutru.com

Leave a Reply