Vấn đề phân loại các nguồn sử liệu của lịch sử Việt nam

Tất nhiên cũng như đối với nhiều nhiệm vụ cụ thể khác của sử liệu học, đây là ván đề không đơn giản. Hơn nữa vấn đề phân loại các nguồn sử liệu không thể giải quyết chuyên môn thuộc các lĩnh vực khác nhau trong khoa học lịch sử như khảo cổ học, dân tộc học, thông sử và một số ngành khoa học bổ trợ có liên quan như văn bản học, lưu trữ học, v…
Trong bài viết này chúng tôi xin trình bày một số kết quả nghiên cứu bước đầu của chúng tôi đối với vấn đề trên, thông báo một vài nhận thức sơ bộ của mình thông qua việc khảo sát các nguồn sử liệu của lịch sử Việt Nam để góp phần trao đổi với các nhà nghiên cứu lịch sử và các đồng nghiệp chuyên nghiên cứu về sử liệu học.
Trước hết, theo chúng tôi mục tiêu chủ yêu của việc phân loại các nguồn sử liệu là để giúp cho các nhà nghiên cứu có điều kiện tiếp cận và sử dụng một cách rộng rãi, chính xác, chủ động các nguồn sử liệu về một thời kỳ, một sự kiện hay một vấn đề nào đó trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc. Đồng thời chính trong quá trình đó các nguồn sử liệu sẽ có thể tự phản ánh một cách sâu sắc, có hệ thống các sự kiện và quá trình lịch sử. Do đó nhận thức lịch sử được nâng cao hơn, khách quan hơn.
Sở dĩ chúng tôi nhấn mạnh đến điều này là vì hiện nay có một số nhà nghiên cứu bởi nhiều lý do khác nhau đã không chú ý đúng mức đến yêu cầu phân loại khoa học các nguồn sử liệu trước khi sử dụng chúng; hoặc có phân loại thì còn tùy tiện, không theo một nguyên tắc và phương pháp nào.
Sự thật khi các nguòn sử liẹu không được phân loại khoa học và lại sử dụng một cách tùy tiện, thiếu cơ sở để phê phán về nội dung cũng như về hình thức sử liệu thì chất lượng của tác phẩm nghiên cứu sẽ không tránh khỏi bị hạn chế. Khi sử dụng nguồn tài liệu thống kê nông nghiệp từ trước để nghiên cứu sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga. V.I- Lenin đã nhận xét: “Những tài liệu đó có nét nổi bật là vô cùng phong phú, đầy đủ tư liệu về mỗi ấp trại. Nhưng do sự tập hợp và sắp xếp không khéo léo, không có suy nghĩ chín chắn, thủ cựu, nên những tài liệu rất phong phú đó hoàn toàn bị thất lạc, mất mát, mai một đi và thường trở nên vô dụng khi muốn nghiên cứu những quy luật phát triển của nông nghiệp” (2). Cũng theo V.I. Lênin, vấn đề phân loại các tài liệu thu nhập được trong điều tra nông nghiệp “hoàn toàn không phải là vấn đề có tính chất kỹ thuật hẹp và tính chất chuyên môn hẹp như chúng ta tưởng khi mới thoạt nhìn” (3).
Lời chỉ dẫn trên đây của V.I-Lê nin cho chúng ta thấy việc phân loại các nguồn sử liệu để nghiên cứu không phải là không có ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng của người sử dụng chúng. Thiếu sự phân loại các nguồn sử liệu một cách khoa học, các nhà nghiên cứu sẽ khó phát hiện được đầy đủ và chính xác những vấn đề khác nhau được nói đến trong sử liệu. Ngược lại, nếu sử dụng được nhiều nguồn sử liệu theo một hệ thống chặt chẽ, các nhà nghiên cứu sẽ có khả năng nắm bắt được bản chất của vấn đề đặt ra, nhận thức được quy luật phát triển của nó qua các nguồn sử liệu.
Tính tất yếu khách quan của việc phân loại các nguồn sử liệu còn bắt nguồn từ sự đa dạng, phức tạp, nhiều hình, nhiều vẻ của các nguồn sử liệu nữa.
Thật vậy các nguồn sử liẹu của bát cứ một giai đoạn lịch sử nào cũng đều xuất hiện và tồn tại một cách có quy luật, phản ánh trình dộ phát triển của một hình thái kinh tế – xã hội nhất định. Đồng thời trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, các hệ thống sử liệu lại rất phong phú, có nhiều nét đặc thù và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Nghiên cứu các sự kiện lịch sử của bất cứ một thời kỳ nào chúng ta cần phải tìm hiểu được các quy luật, các mối liên hệ, các đặc điểm của những nguồn sử liệu được sử dụng. Bởi vậy các nguồn sử liệu cần được phân loại. Điều này có vẻ đơn giản, nhưng trong thực tế cho đến nay trong quá trình nghiên cứu các vấn đề của lịch sử dân tộc, các nhà sử học Việt Nam vẫn chưa có một cách nhìn thống nhất, có tính hệ thống về các nguồn sử liệu liên quan đến từng thời kỳ lịch sử cụ thể. Ví dụ khi nghiên cứu về các thời kỳ của lịch sử Việt Nam hoặc lịch sử của một địa phương, của một ngành, v.v… chúng ta có thể dựa vào những nguồn sử liệu nào? Tính chất, giá trị của các nguồn sử liệu đó ra sao? Chúng được hình thành trong hoàn cảnh nào, thời gian nào? Giữa chúng có mối quan hệ với nhau như thế nào? Khả năng khai thác và sử dụng chúng trên thực tế, ? v.v… Để trả lời những câu hỏi đó chúng ta phải phân loại các nguồn sử liệu của lịch sử Việt Nam một cách khoa học.
Như vậy là từ yêu cầu của việc nghiên cứu, sử dụng các nguồn sử liệu và từ tính phức tạp của bản thân chúng, việc phân loại các nguồn sử liệu là rất cấp thiết và có tính khách quan.
Nhìn lại quá trình phát triển của khoa học lịch sử ở nước ta trong mấy chục năm qua, chúng ta phải thừa nhận rằng các nguồn sử liệu của lịch sử Việt Nam đã được phân loại sơ bộ, ví như trong một chương sách riêng, hoặc trong phần khảo dị, chú thích của tác phẩm thông sử.
Qua những kinh nghiệm thực tế, chúng ta có thể thấy rõ muốn nghiên cứu lịch sử cổ trung đại Việt Nam thì trước hết phải dựa vào nguồn thư tịch Hán Nôm. Ngoài các bộ chính sử cũ như “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Việt sử thông giám cương mục”, chúng ta còn phải dựa vào các tác phẩm của Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú, Phạm Đình Hổ v.v… Hơn nữa chúng ta còn phải sử dụng đến cả gia phả, bi ký, sổ dinh, sỏ dièn, truyền thuyết dân gian ở các địa phương; những thông tin sử học từ các vật thật như thành lũy, đền chùa, sông đào, từ các địa danh cổ còn lưu lại đến ngày nay và từ các hiện vật khảo cổ đào lên từ lòng đất.Việc sử dụng rộng rãi các nguồn sử liệu nói trên thực sự đã giúp cho chúng ta mô tả một cách phong phú hơn, sâu sắc và toàn diện hơn bộ mặt lịch sử của xã hội Việt Nam thời xưa, đặc biệt là về các vấn đề kinh tế – xã hội, quân sự.
Nhưng đối với việc nghiên cứu lịch sử cận hiện đại Việt Nam thì các nguồn sử liệu như gia phả, thần phả, sổ đinh, sổ điền, thành lỹ, bi ký cổ, lại không quan trọng như là đối với cổ sử. Trong khi đó các nguồn sử liệu như các văn kiện của Đảng và Nhà nước, các báo chí cách mạng, các hồi ký, các  tài liệu ghi chép thống kê, các văn kiện hiện đang bảo quản trong các kho Lưu trữ lại rất quan trọng. Chúng ta cũng phải sử dụng đến các tài liệu ghi âm, các tài liệu phim ảnh, các hiện vật ở trong các Bảo tang và các sách, báo, tạp chí của nước ngoài khi cần thiết.
Tuy nhiên nếu việc phân loại các nguồn sử liệu của lịch sử Việt Nam chỉ đứng lại ở mức độ trên đây thì chưa thể đáp ứng được yêu cầu mà sử liệu học với tư cách là một bộ môn khoa học cụ thể đòi hỏi. Vả lại các nguồn sử liệu liên quan đến mỗi thừoi kỳ của lịch sử dân tộc ta hết sức phong phú, đa dạng và không ngừng được bổ sung. Vì vậy sử liệu học đòi hỏi phải nắm được trên cơ sở phân tích một cách sâu sác, toàn diện, có hệ thống các nguồn sử liệu của lịch sử đất nước theo từng thời kỳ, từng lãnh vực, thậm chí tới từng sự kiện, từng vấn đề cụ thể. Chúng ta phải phân loại các nguồn sử liệu và thực hiện những nhiệm vụ cần thiết dưới góc độ sử liệu học để việc sử dụng chúng thực sự thỏa đáng, khách quan, tránh những hiện tượng tùy tiện mà ta thường thấy trong một vài công trình. Khi nghiên cứu lịch sử cổ trung đại Việt Nam chúng ta không được xem thần thoại cũng như chính sử, không được xem ghi chép của người xưa, không được xem tác phẩm văn học cũng như tác phẩm sử học. Hoặc khi nghiên cứu lịch sử hiện đại Việt Nam, chúng ta phải phân biệt tài liệu của ta với tài liệu của địch, ghi chép chính thức với số liệu dự báo, số liệu trong kế hoạch với số liệu đã đạt được trên thực tế. Ví như số lượng địch bị chúng ta tiêu diệt trong thời kỳ 1945-1954, trong ba cuốn: “Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam” (Sơ thảo) tập I (1920-1954), (1981) đã khác nhau khá xa. Cuốn thứ nhất ghi: 561,900 tên, (trang 595) cuốn thứ hai ghi; 446.172 tên, còn cuốn thứ ba ghi; gần nửa triệu quân xâm lược nhà nghề của thực dân Pháp đã bị chúng ta tiêu diệt trong cuộc kháng chiến chống Pháp (trang 729).
Ngoài ra về phương diện sử liệu học lịch sử Việt Nam nói riêng, việc phân loại các nguồn sử liệu còn nhằm một mục đích quan trọng khác là góp phần xác định một quan niệm thống nhất và một hệ thống khái niệm chung cho quá trình xây dựng ngành sử liệu học ở nước ta trước mắt cũng như lâu dài. Một quan niệm thống nhất và một hệ thống khái niệm chung như vậy không thể nào có được nếu việc nghiên cứu và phân loại các nguồn sử liệu chỉ bó hẹp trong một phạm vi nào đó lệ thuộc vào công việc nghiên cứu của nhà sử học, nếu nó chỉ được kết hợp trình bày trong các tác phẩm sử học. Bởi vì trong quá trình nghiên cứu của mình mỗi nhà sử học chỉ có thể quan tâm đến một số loại sử liệu nhất định, trong một thời gian nhất định và theo quan điểm mà mình lựa chọn. Do đó chúng ta rất khó có điều kiện tìm thấy một quan niệm chung đối với các nguồn sử liệu đã được sử dụng. Kết quả là những khái niệm về sử liệu học nói chung cũng như về sử liệu học cụ thể liên quan đến việc mô tả, phân tích, xác định giá trị của từng nguồn sử liệu dù đã xuất hiện vẫn không được mọi người nhất trí thừa nhận. Sự thiếu thống nhất đó không những làm cho bộ môn khoa học về các nguồn sử liệu ở nước ta phát triển chậm mà còn làm cho các nguồn sử liệu của lịch sử Việt Nam được miêu tả khá tùy tiện, không được sử dụng chính xác.
Tóm lại, vấn đề phân loại các nguồn sử liệu của lịch sử Việt Nam cần được giải quyết vì nhu cầu nghiên cứu lịch sử đang lên cao, vì các nguồn sử liệu đang ngày càng được mở rộng. Nó cũng nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng một ngành sử liệu học ở nước ta tương xứng với sự phát triển của khoa học lịch sử.
Muốn phân loại tốt các nguồn sử liệu của lịch sử Việt Nam, chúng ta phải nghiên cứu và chỉ ra được những đặc điểm cơ bản của chúng.
Theo chúng tôi, một trong những đặc điểm nổi bật của các nguồn sử liệu lịch sử Việt Nam là càng về các thời kỳ lịch sử xa xưa thì sử liệu chữ viết càng hiếm, mặc dù ở nước ta vẫn tự được dùng từ khá sớm. Trải qua mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, cho đếnn ay các nguồn sử liệu viết còn lại về các thời kỳ xa xưa ấy hầu như không đáng kể.
Chúng ta đều biết vào những thế kỷ trước công nguyên nước ta chưa có văn tự riêng (hoặc nếu có  thì ngày nay cũng chưa tìm được). Những ghi chép sau này về lịch sử Việt Nam thời đó tất yếu phải dựa vào truền thuyết. Cả một thời kỳ dài của lịch sử dân tộc ta từ thế kỷ I đến thế kỷ X chỉ được ghi lại sơ lược trong một số sách do người Trung Quốc biên soạn theo quan điểm của kẻ thống trị ngoại bang, không những thiếu chính xác mà còn đầy rẫy những sự kỳ thị, xuyên tạc có dụng ý. Từ thế kỷ X về sau khi đất nước ta đã giành được độc lập, các nhà nước phong kiến Việt Nam đều tổ chức việc ghi chép lịch sử với việc thành lập Quốc sử quán  và đã để lại nhiều công trình sử học có giá trị.
Nhưng nước ta lại bị nạn ngoại xâm liên tiếp và cứ mỗi lần tràn vào nước ta bọn giặc đều cố tình hủy diệt các di sản văn hóa của dân tộc ta, đặc biệt là các tài liệu thư tịch. Cho đến nay trải qua nhiều thế hệ kế tiếp nhau, chúng ta đã ra sức sưu tầm tư liệu, nhưng thư tịch cũ về thời Lý-Trần về trước còn lại thật quá ít ỏi. May mắn một số văn tự nào đó vào  thời ấy còn lại chưa bị hủy là do ghi trên các bi ký bằng đá. Ngoài ra văn tự cổ ở các thời kỳ xa xưa còn  bị hủy hoại là do khí hậu khắc nghiệt, độ ẩm ở nước ta cao. Các văn tự cổ nếu không sao chép lại cũng tự nó mất mát dần. Đó là chưa kể có người như vua Trân Anh Tông (1293-1314) theo sử sách truyền lại trước khi chết đã ra lệnh đốt hết các công trình sang tác và biên soạn của ông. Những mâu thuẫn nội bộ trong các Triều đình phong kiến Việt Nam xưa dẫn đến những vụ chém giết lẫn nhau cũng gây nên nhiều tổn hại cho các nguồn sử liệu. Trong vụ thảm án Nguyễn Trãi vào năm 1442 dưới triều lê hầu như toàn bộ công trình nghiên cứu, sang tác của Nguyễn Trãi đều bị hủy hoại. Đến nay chúng ta cũng chỉ có được một số bản sao do người đời sau chép lại.
Những sự mất mát các sử liệu bằng văn tự nói trên đã gây rất nhiều khó khăn cho việc nghiên cứu lịch sử. Do đó các nhà nghiên cứu phải tìm cách bổ sung sử liệu từ các nguồn khác ngoài văn tự, và sự phân loại chúng sẽ trở nên phức tạp hơn.
Đặc điểm thứ hai là những sử liệu bằng văn tự ở nước ta trước Cách mạng tháng Tám 1945 đa số bằng chứ Hán, chữ Nôm, chữ Pháp: còn bằng chữ quốc ngữ không nhiều lắm.
Chẳng hạn nếu xem bảng thư mục tài liệu tham khảo của cuốn “lịch sử Việt Nam”, Tập 1 (Nxb KHXH, Hà Nội, 1971) chúng ta sẽ thấy có tới 126 tài liệu và sách Hán Nôm, chiếm gần 50% số tài liệu tham khảo ghi ở đấy. Bên cạnh đó là các tài liệu, sách viết bằng chữ Pháp, chữ La tinh do các Giáo sĩ Cơ đốc giáo phương Tây ghi chép có liên quan đến tình hình kinh tế – xã hội ở nước ta lúc bấy giờ. Chúng ta có thể tìm thấy các sử liệu này ở nhiều thư viện, kho lưu trữ ở trong nước và ngoài nước (nhất là ở Pháp)
Riêng về thời cận đại cho đené năm 1945 thì có nhiều sử liệu viết bằng chữ Pháp hơn. Sử liệu viết bằng chữ Hán vẫn còn nhưng không nhiều lắm. Các văn bản chữ Pháp hiện còn được lưu trữ khá nhiều trong các kho lưu trữ nhà nước của chúng ta, một số bị lấy đưa về Pháp; nhưng điều chưa được khai thác mấy.
Điều đáng chú ý về phương diện sử liệu học là các nguồn sử liệu của lịch sử Việt Nam suốt trong nhiều thế kỷ trước đây đã được viết bằng những ngôn ngữ không có tính phổ cập. Trà chữ Nôm là thứ chữ chưa phát triển, còn các thứ chữ khác đều là chữ nước ngoài, và đã gây ra một số khó khăn nhất định cho một số người nghiên cứu. Mặt khác, chúng ta không dễ gì kiểm tra được tính chính xác của chúng khi đưa vào các công trình sử học. Người đọc chỉ có thể tin vào khản năng nghiên cứu, phân loại, đánh giá của các tác giả. Nếu chúng ta không chú ý đến tính đặc thù nói trên để phân loại một cách hợp lý các nguồn sử liệu thì rất có thể dẫn đến nhiều sai sót đáng lẽ có thể vượt qua được.
Đặc điểm thứ ba là do sự hiếm hoi và khó khăn trong việc tìm kiếm các nguồn sử liệu và do ý thức về vấn đề này còn giản đơn nên có một số nhà nghiên cứu đã không phân biệt một cách thật nghiêm túc nguồn sử liệu gốc với các nguồn sử liệu sao chép lại, biến sử liệu sao chép, in lại thành sử liệu gốc mà không có sự giám định cần thiết. Vì thế độ tin cậy được một số bản sao do người đời sau chép lại, biến sử liệu sao chép, in lại thành sử liệu gốc mà không có sự giám định cần thiết. Vì thế độ tin cậy của chúng đến đâu khó mà xác định vì chúng ta không tìm thấy xuất xứ ban đầu của sử liệu gốc được ghi vào tác phẩm. Có trường hợp tác phẩm này trích lại của tác phẩm khác và theo hệ thống phân loại chung, hai tác phẩm cùng thời thì tác phẩm trước lại trở thành sử liệu gốc ! Đương nhiên việc sử dụng lại sử liệu là cần thiết nhưng vì thiếu thận trọng, nghiêm túc nên nó trở nên ít có tác dụng thiết thực và làm cho người đọc có thể nghi ngờ. Ở đây tồn tại hai vấn đề mà chúng ta phải chú ý. Thứ nhất là bản thân tính chất thông tin của các nguồn sử liệu; thứ hai là phương pháp phân loại và sử dụng sử liệu sao cho thỏa đáng. Chúng ta đều biết phần lớn các văn bản viết bằng chữ Hán hiện còn ở nước ta đều là bản sao chép về sau, thậm chí có bản sao đến vài ba lần. Tình trạng sai lệch trong văn bản rất nhiều. Người ta chắp vá, bổ sung tùy tiện, đôi khi còn có cả văn  bản giả nữa. Thí dụ trong thư viện Hán-Nôm của ta hiện nay có bộ sách mang tên “Quốc triều Thông chế”, (Ký hiệu A.211) ghi là do đình thần nhà Trần biên soạn, và một bộ “Binh thư yếu lược” (ký hiệu A.476) nói là của Trần Quốc Tuấn soạn thảo. Vậy mà trọng “Lịch triều hiến chương loại chí” phần Văn tịch chí Phan Huy Chú lại cho biết hai bộ sách trên đều đã mất từ lâu. Thế thì hai bộ sách mà chúng ta tìm thấy sau  Phan Huy Chú vài trăm năm liệu có thật không? Và nếu là bản sao thì sao đến lần thứ mấy? Người sao lại có thêm gì vào không?v.v…
Tình hình trên phải được làm sang  tỏ khi chúng ta còn có  thể làm được qua sự phân loại các nguồn sử liệu, nhất là đối với những sử liệu hiện đại cách ngày nay mới mấy chục năm. Nếu chúng ta không chú ý thì các nguồn sử liệu của lịch sử Việt Nam vốn đã phức tạp sẽ ngày càng phức tạp hơn.
Đặc điểm thứ tư là mặc dù các nguồn sử liệu của lịch sử Việt Nam khá phong phú, nhiều loại, nhưng trong thời gian qua chúng được sử dụng trong các tác phẩm sử học của chúng ta còn ít, còn đơn điệu. Nhiều nguồn sử liệu khác ngoài chữ viết chưa được dùng,  đặc biệt là trong thời kỳ cận hiện đại Việt Nam.
Lịch sử Việt Nam từ thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay có rất nhiều sử liệu phong phú, đa dạng: chữ viết, phim, ảnh… nhưng chúng chưa được chúng ta khai thác, phân loại và sử dụng một cách triệt để. Trong thực tế các nhà sử học còn tự hạn chế mình khi tìm kiếm các khả năng khai thác sử liệu vốn có trong thức tế. Thí dụ hai cuốn lịch sử xuất bản trong năm 1984: “Hà Nội, Thủ đô nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Nxb Sự thật), và “Những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam chống phong kiến Trung Quốc xâm lược” (Nxb Khoa học xã hội) đều được dư luận hoan nghênh vì tính thời sự của chúng và đều được viết công phu, nhưng có thể thấy ngay rằng các nguồn sử liệu đưa vào hai tác phẩm này vẫn còn đơn điệu. Nên chăng chúng ta cần in trong cuốn sách thứ nhất một số bản đồ Hà Nội tiêu biểu để giúp cho người đọc  có thể dễ dàng nhận thấy sự phát triển của Thủ đô Hà Nội qua các giai đoạn lịch sử. Nên chăng chúng ta cần đưa vào cuốn sách này một số tấm ảnh liên quan đến những sự kiện lịch sử nổi tiếng của Hà Nội mà cũng là của cả nước; một số ảnh về di tích văn hóa tiêu biểu của Hà Nội… thì cuốn sách sẽ hấp dẫn hơn nhiều? Chúng ta cũng có thể đưa vào cuốn sách thứ hai nhiều thông tin sử liệu mới làm cho tính khoa học của cuốn sách được nâng cao hơn. Vì thế việc phân loại các nguồn sử liệu là tạo khả năng để chúng ta vượt qua tồn tại này, mở rộng mối quan hệ giữa các nguồn sử liệu và cách sử dụng chúng trong một công trình nghiên cứu hay trong một thời kỳ lịch sử nhất định.
Cần nhấn mạnh rằng việc phân loại các nguồn sử liệu không chỉ ảnh hưởng đến một tác phẩm và nó cũng không phải chỉ là nhiệm vụ riêng của một nhà sử học nào. Đó là nhiệm vụ có liên quan đến mọi tác phẩm sử học, có ảnh hưởng đến quá trình nghiên cứu của tất cả các nhà sử học khi họ cùng nghiên cứu một vấn đề, một giai đoạn lịch sử. Đó là nhiệm vụ của sử liệu học và nó cần phải được giải quyết trên cơ sở xem xét đầy đủ, sâu sắc những đặc điểm mà chúng tôi đã nói ở trên. Tất nhiên chúng có thể còn có những đặc điểm khác mà chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, phát hiện.
Trên cơ sở những đặc điểm vừa trình bày, theo chúng tôi việc phân loại các nguồn sử liệu của lịch sử Việt Nam cần phải dựa vào một số đặc trưng cơ bản nhất định:
– Phân loại theo thời kỳ lịch sử.
– Phân loại theo địa bàn tồn tại của sử liệu.
– Phân loại theo đặc điểm hình thức của sử liệu.
– Phân loại theo tính chất thông tin có trong sử liệu.
– Phân loại theo đặc điểm ngôn ngữ, tác giả, v.v..
Khi phân loại một nguồn sử liệu chúng ta có thể dựa theo một hay một số đặc trưng nói trên.
Thí dụ theo đặc trưng thứ nhất, các nguồn sử liệu có thể chia thành các loại như:
– Sử liệu về lịch sử Việt Nam thời kỳ tiền sử và sơ sử.
– Sử liệu về lịch sử Việt Nam thời kỳ cổ đại và trung đại.
– Sử liệu về lịch sử Việt Nam thời cận đại.
– Sử liệu về lịch sử Việt Nam thời kỳ hiện đại.
Trong mỗi thời kỳ lịch sử trên chúng ta lại có thể phân loại chi tiết hơn. Cách phân loại như vậy sẽ giúp cho nhà nghiên cứu định hướng được việc sưu tầm và sử dụng các nguồn sử liệu liên quan đến mỗi thời kỳ cụ thể của lịch sử dân tộc.
Theo đặc trưng thứ hai, các nguồn sử liệu sẽ được phân chia thành các nhóm: sử liệu ở Trung ương, ở địa phương (tỉnh, huyện, xã), ở trong nước và ở nước ngoài. Cách phân chia này tuy phức tạp nhưng sử liệu lại có thông tin tổng hợp, phong phú về một địa bàn, một vấn đề cụ thể của từng địa phương. Thí dụ khi nghiên cứu về khởi nghĩa Lam Sơn, chúng ta cần phân biệt một số nguồn sử liệu hình thành ở tỉnh Thanh Hóa với sử liệu ở nơi khác xã cái “nôi ban đầu” của cuộc khởi nghĩa này. Hoặc khi nghiên cứu về phong trào “Đồng khởi” ở miền Nam Việt Nam trong những năm chống Mỹ cứu nước thì việc phân biệt các sử liệu theo địa bàn hình thành của nó là rất có ích. Các nhà nghiên cứu hiện nay và sau này dù muốn hay không cũng phải hướng sự chú ý của mình vào việc khai thác các nguồn sử liệu hình thành ở các tỉnh Nghĩa Bình, Bến Tre là những địa bàn được xem là nơi mở đầu và là ngọn cờ tiêu biểu của phong trào “ Đồng khởi” ở miền Nam nước ta trước ngày giải phóng (4).
Nếu căn cứ vào đặc điểm của sự hình thành các nguồn sử liệu thì các nguồn sử liệu của lịch sử Việt Nam có thể phân loại theo cách phân loại chung mà nhiều nước đang áp dụng. Theo cách này, chúng ta sẽ có 6 loại sử liệu của lịch sử Việt Nam là : Sử liệu viết, sử liệu vật thật, sử liệu hình ảnh, sử liệu dân tộc học, sử liệu ngôn ngữ học, sử liệu truyền miệng. Cách phân chia thành 6 loại như trên vẫn còn là ước lệ và tương đối.
Các nhóm sử liệu trên tất nhiên cần phải được phân loại một cách chi tiết hơn, phù hợp với những đặc điểm của lịch sử Việt Nam và đặc điểm của mỗi nguồn sử liệu. Thí dụ sử liệu chữ viết có thể phân loại thành các nhóm theo ngôn ngữ của chúng: Sử liệu chữ Hán, chữ Nôm; sử liệu chữ Pháp, chữ Anh và các thứ tiếng phương Tây; sử liệu chữ các dân tộc thiểu số .v.v..
Những sử liệu chữ viết lại có loại bản gốc, có loại bản sao, có loại dịch và in lại. Về mặt chất liệu, hầu hết các văn tự chữ viết đều bằng giấy, nhưng có loại lại viết trên lụa, có loại khắc hoặc viết trên gỗ, trên đá, trên đồng. Chúng ta đã từng biết có nhiều gia phả, chúc thư, văn khế chia ruộng đất ở nhiều địa phương nước ta được khắc trên gỗ, trên đá, trên đồng xuất hiện vào các thế kỷ XVII, XVIII. Có loại còn có niên đại sớm hơn. Bản thân nguồn sử liệu này có hai mặt: vừa là văn tự, vừa là vật thật. Nó không chỉ là văn tự  gốc mà còn là sản phẩm văn hóa, kỹ thuật. Bởi thế nguồn sử liệu thuộc loại này có thể đặt ở những nhóm khác nhau. Việc nghiên cứu chúng đã vượt  quá phạm vi văn bản học thuần túy. Chúng ta cũng có thể phân loại sử liệu viết theo nội dung. Theo chúng tôi, áp dụng đặc trưng nào trong số các đặc trưng nói trên để phân loại các nguồn sử liệu là tùy thuộc ở nhu cầu thực tế của công việc nghiên cứu, sử dụng sử liệu, đồng thời do đặc điểm của các nguồn sử liệu về mỗi thời kỳ của lịch sử nước ta quyết định. Có nguồn sử liệu không thể phân loại theo đặc trưng này nhưng lại có thể phân loại theo đặc trưng khác. Thí dụ về nguồn sử liệu phim ảnh, chúng ta không nên phân lọai theo địa bàn mà nên phân loại theo loại hình của chúng như phim tài liệu, phim t hời sự, v.v… Nhưng đối với nguồn sử liệu là báo, tạp chí, tài liệu lưu trữ thì chúng ta lịa nên phân biệt loại ở trung ương và loại ở địa phương, loại ở trong nước, loại ở ngoài nước, loại tài liệu của ta và loại tài liệu của địch v.v..
Như vậy, là đề phân loại tổng hợp toàn bộ các nguồn sử liệu của lịch sử Việt Nam chúng ta cần phải áp dụng nhiều đặc trưng khác nhau. Đó là điều cần phải làm từng bước và đòi hỏi phải có những công trình sử liệu học sâu rộng. Việc phân loại tổng hợp sẽ giúp cho các nhà nghiên cứu có cái nhìn toàn diện đối với các nguồn sử liệu, thấy được mối liên hệ giữa chúng với nhau và mỗi  thời kỳ lịch sử cụ thể.
Tuy nhiên bất cứ một sự phân loại chung nào cũng không  thể bao gồm hết được tính đặc thù của các nhóm sử liệu riêng biệt. Vì vậy việc phân loại theo phạm vi từng nguồn sử liệu vẫn có vai  trò riêng của nó. Đặc biệt là khi các nhóm sử liệu riêng biệt có khối lượng lớn thì sự phân loại cụ thể, chi tiết trong mỗi nhóm là hết sức cần thiết.
Vì những lý do trên, chúng tôi cho rằng các nguồn sử liệu của lịch sử Việt Nam cần được phân loại theo cả hai khuynh hướng: Tổng  quát và từng nguồn cụ thể theo đặc thù riêng của chúng. Dù là phân loại tổng quát hay chỉ trong phạm vi của một loại hình sử liệu thì chúng ta vẫ phải xuất phát từ những nguyên tắc phương pháp luận và những phương pháp chung.  Phải có quan điểm tính Đảng, quan điểm tổng hợ, toàn diện; phải nắm vững nguyên tắc lịch sử – lô gích; phải nắm vững yêu cầu của phương pháp hệ t hống khi phân lọai sử liệu. Chúng ta không thể phân loại các nguồn sử liệu mà không tính đến những đặc điểm lịch sử của chúng cũng như không xét đến mối liên hệ của chúng trong từng hệ thống sử liệu và giữa các hệ thống có liên quan tới một quá trình, một vấn đề hay một thời kỳ lịch sử nhất định. Mỗi thời kỳ lịch sử đều có một loại sử liệu đặc trưng cho nó, chúng ta không nên tuyệt đối hóa một nguồn sử liệu nào và không thể đưa ra một khung phân loại cố định, Cụ thể chung cho mọi nguồn sử liệu của lịch sử việt Nam. Trong khi quan tâm đến xu hướng sử dụng sử liệu, chúng ta cũng cần đẩm bảo cho các nguồn sử liệu sau khi phân loại có khản năng phản ánh được sự phát triển chung của lịch sử dân tộc cũng như của bản thân quá trình sưu tầm, nghiên cứu sử liệu mà các nhà sử học đã  tích lũy được. Như vậy việc phân loại các nguồn sử liệu không thể tách rời khỏi quy luật chung của sự phát triển của khoa học lịch sử của nước ta.
Từ những nhận thức trên, chúng tôi xin thử trình bày một vài khả năng cụ thể của việc phân loại các nguồn sử liệu của lịch sử Việt Nam để làm cơ sở tham khảo và trao đổi ý kiến với các bạn đồng nghiệp.
IV-1. Về các nhóm sử liệu của lịch sử Việt Nam cổ trung đại
IV-1-1. Sử liệu chữ viết:
a) Nguồn chính sử cũ, trong đó có thể kể đến “Đại Việt sử ký toàn thư” “Việt sử thông giám cương mục”, “Đại Nam thực lục” (tiền biên và chính biên),v.v…
b) Những loại điển, chí, truyện, lục, trong đó có thể kể đến “Đại Việt thông sử”, “Kiến văn tiểu lục”, “Phủ biên tạp lục”, “Lịch triều kiến chương loại chí”.
Ngoài ra còn phải kể đến một số tác phẩm là nguồn sử liệu viết quan trọng của thời Lý – Trần như “Việt sử lược”, “Việt diện u linh”, “Lĩnh Nam chính quái”, và một số sách về Phật giáo như “Thiền uyển tập anh”, “Tam tổ thực lục”, v.v… Một số tác phẩm khác là nguồn sử sơn thực lục”, “Dư địa chí”, “Thiên Nam in thụ tập”, “Lêquý kỷ sự”, “LỊch triều tập ký”, “Hậu Lê  thời sự kỷ lược”, “Vũ trung tùy bút”, “Tang thương ngẫu lục”, v.v..
Trong các loại chí thì địa lý chí là nguồn sử liệu viết có vai trò rất đáng kể để nghiên cứu lịch sử cổ trung đại Việt Nam, cần kể đến “Hải Đông chí lược”, “Nghệ An ký”, “Gia Định thành thông chí”, “Phương định dư địa chí”, v.v… và đặc biệt là bộ “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn. Vào khoảng cuối thế kỷ XIX còn xuất hiện cả huyện chí và xã chí như “Vĩnh Lộc huyện chí”, “Chí Linh huyện chí”, “Đông Thành huyện chí”, “Trà Lũ xã chí”, v.v…
Bên cạnh địa lý chí còn có các loại điển ghi chép riêng những hoạt động về kinh tế, chính trị, xã hội, v.v…đáng kể nhất là hai bộ “Lê triều hội điển” và “Đại Nam hội điển sự bộ” của thời Lê va thời Nguyễn.
Cuối cùng là các ký sự văn học, các loại câu đối.
c) Những bộ sử do người Trung Quốc hoặc người Việt Nam ở Trung Quốc biên soạn, trong đó có nhiều thông tin quan trọng về lịch sử Việt Nam như “Sử ký”, “Hán thư”, “Hậu Hán thư”, “Tùy thư”, “Đường thư”< “An Nam chí nguyên”, “An Nam chí lược”,v.v…
d) Những gia phả thần phả, có thể chia thành ba loại: bản gốc, bản sao và bản dịch.
e) Những loại văn bản, văn khắc trên chuông.
g) Những tài liệu hình thành trong hoạt động hành chính của các Nhà nước phong kiến; đáng chú ý nhất là những châu phê, châu bản mà hiện nay chúng ta còn bảo quản được một số tại các kho lưu trữ ở Huế, Đà Lạt và Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra chúng ta cũng cần kể đến các sổ đinh, sổ điền, các loại địa bạ mà Nhà nước phong kiến lập ra để quản lý đất đai, dân số của từng vùng. Loại sử liệu này rất phong phú nhưng đến nay còn chưa được khai thác mấy.
IV-1-2. Sử liệu vật thật có vai trò rất quan trọng trong việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam  thời kỳ tiền sử và sơ sử, thời kỳ cổ trung đại.
Về nguồn sử liệu vật thật của lịch sử cổ trung đại Việt Nam, rất đa dạng, có thể kể đến một số nhóm chủ yếu như:
– Nhóm sử liệu khai quật dưới lòng đất gồm có các mộ táng, các khu cư trú (phủ đệ), khu sản xuất (công xưởng, lò gốm, lò đúc…) các hiện vuật riêng biệt…
– Nhóm sử liệu ngoài trời gồm các thành lũy, đình chùa, sông đào, v.v…
– Bi ký: Bi ký có thể xếp vào loại sử liệu văn tự nhưng cũng có thể xếp vào loại sử liệu vật thật nhằm nghiên cứu các hoa văn, chất liệu, kỹ thuật chế tác sử liệu.
– Tranh và các bản đồ.
IV-1-3 sử liệu ngôn ngữ có thể có: Những địa danh cổ, những từ cổ còn lại trong tiếng nói của dân tộc. Trong mấy năm gần đây địa danh cổ, những từ cổ còn lại trong tiếng nói của dân tộc. Trong mấy năm gần đây địa danh cổ ngày càng được sử dụng nhiều trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam cổ đại. Thực tế cho chúng ta thấy tên gọi của một địa điểm cư trú, một khu vực sản xuất một đoạn đường, một con sông cổ, một bãi chiến trường xưa, v.v.. đều có liên quan đến những sự kiện lịch sử nhất định. Trong một địa danh thường có cả ba yếu tố gắn chặt với nhau là địa lý, ngôn ngữ và xã hội; trong đó yếu tố địa lý thường ổn định hơn cả.
IV-2. Về các nguồn sử liệu của lịch sử cận đại Việt Nam
Theo chúng tôi, các nguồn sử liệu này có thể chia theo các nhóm:
IV-2-1. Sử liệu chữ viết gồm có:
a) Tác phẩm của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta
+ Tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Đây là nguồn sử liệu có ý nghĩa rất quan trọng để chúng ta nghiên cứu quá trình truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, nghiên cứu các vấn đề về sự hình thành đường lối cách mạng ở Việt Nam, về phương pháp vận dụng những nguyễn lý của chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam nhằm giải quyết những nhiệm vụ cách mạng ở một nước thuộc địa nửa phong kiến.
Là người sang lập và rèn luyện Đảng ta sang lập ra Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, trong hàng loại tác phẩm, bải viết, bài nói của Người, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những đặc điểm và vai trò của Nhà nước vô sản ở một nước vừa thoát khỏi chế độ thuộc địa, vừa phải chống thù trong giặc ngoài, vừa bắt tay xây dựng chế độ mới. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Đảng ta đã đề ra những cơ sở lý luận và áp dụng vào thực tiễn Việt Nam một đường lối cách mạng sang tạo, đúng đắn để đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Chúng ta có thể tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề này qua những văn kiện- nguồn sử liệu vô giá- mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho toàn Đảng Nhưng những văn kiện của Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại hiện nay chưa được công bố hết. Bởi vậy khi phân loại những tài liệu văn kiện, tác phẩm của Người, chúng ta cần chú ý phân biệt sao cho thỏa đáng. Theo chúng tôi, chúng ta có thể phân loại các văn kiện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các tác phẩm của Người nói chung theo thờigian viết, theo ngôn ngữ ( vì Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ viết tác phẩm bằng tiếng Việt mà Người còn viết bằng tiếng Pháp, tiếng Nga, và các thứ tiếng nước ngoài khác), theo loại hình và nhất là theo vấn đề.
+ Tác phẩm của các nhà lãnh đạo, các nhà hoạt động nổi tiếng của Đảng và nhà nước ta.
Sau tác phẩm của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, tác phẩm của các nhà lãnh đạo nổi tiếng của Đảng và nhà nước ta đã được xuất bản từ trước đến nay cũng có vai trò rất quan trọng trong việc nghiên cứu lịch sử cận hiện đại Việt Nam. Nguồn sử liẹu này không chỉ giúp cho chúng ta nghiên cứu về đường lối cách mạng Việt Nam do Đảng ta đề ra, nghiên cứu về việc Đảng ta vận dụng những quy luật cơ bản của cách mạng vô sản vào hoàn cảnh cụ thể ở nước ta trong mấy chục năm qua, mà còn tìm hiểu và phát hiện những quy luật tiến triển của xã hội Việt Nam thời kỳ cận hiện đại, nghiên cứu mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới.
Nhóm sử liệu này có thể phân loại thành các nhóm nhỏ hơn theo tác giả, theo loại hình và theo vấn đề.
b) Văn kiện của Đảng và nhà nước của các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở Trung ương, địa phương.
Loại sử liệu này có khối lượng rất lớn, một số đã được công bố rộng rãi, một số khác hiện đang được bảo quản qỏ các cơ quan lưu trữ của Đảng và Nhà nước ta ở Trung ương và địa phương; có thể chia thành hai loại khác nhau:
– Văn kiện của Đảng.
– Văn kiện của Nhà nước.
Về Văn kiện của Đảng gồm có:
– Văn kiện nói về nguyên tắc, mục đích, nhiệm vụ và quá trình xây dựng, củng cố, phát triển Đảng như: Luận cương chính trị của Đảng, Điều lệ Đảng và những tài liệu liên  quan.
– Văn kiện liên quan đến quá trình nghiên cứu, xây dựng các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng như: Nghị quyết của hội nghị Trung ương và Hội nghị của Bộ Chính trị, Biên bản các Hội nghị, những tài liệu có liên quan đến hoạt động của các cấp ủy địa phương về vấn đề nói trên.
– Văn kiện liên quan đến sự chỉ đạo của Đảng đối với những công tác cụ thể về chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, xã hội v.v… như: Thông tri, Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng, của các Thành ủy, Tỉnh ủy, Huyện ủy, v.v…
– Tài liệu, văn kiện phản ánh kết quả sự lãnh đạo của Đảng trong các giai đoạn lịch sử ở từng ngành, từng địa phương; phản ảnh phòng trào cách mạng của quần chúng do Đảng ta lãnh đạo như: Báo cáo công tác của các cơ quan Đảng ở các cấp, Báo cáo tổng kết của các Đại hội Đảng ở cơ sở, các tài liệu thống kê, v.v…
Về Văn kiện của Nhà nước gồm có:
– Văn kiện nói về chức năng, nhiệm vụ, quá trình phát triển của bộ máy nhà nước như: Nghị định, Quyết định thành lập cơ quan. Điều lệ hoạt động của các cơ quan, những tài liệu có liên quan.
– Văn kiện liên quan đến việc đề ra các chủ trương, chính sách để quản lý sản xuất, quản lý xã hội, quản lý nhà nước.
– Văn kiện liên quan đến việc thực hiện những quyết định về quản lý, những chủ trương, chính sách, những kế hoạch sản xuất công tác do Nhà nước giao cho như: Báo cáo, Biên bản, Tờ trình về kết quả công việc cụ thể ở mỗi lĩnh vực, ở mỗi địa phương qua từng năm, từng thời kỳ.
c) Tài liệu hình thành trong hoạt động của các đoàn thể, các đơn vị bộ đội, các trường học, các nhà máy, các nông trường, các hợp tác xã, v.v.. Loại tài liệu này hết sức rộng rãi, đa dạng, trong đó có một số đã được phản ánh trong tài liệu của các cơ quan quản lý và lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, phần còn lại được lựa chọn bảo quản ở các cơ sở, các đơn vị. Chúng ta có thể phân loại những tài liệu này theo nhiều cách khác nhau như khi phân loại tài liệu ở Phồng Lưu trữ Quốc gia và ở các Phông Lưu trữ của một cơ quan cụ thể.
d) Báo chí định kỳ
Từ lâu báo chí đã được các nhà sử học chú ý sử dụng như là một nguồn sử liệu quan trọng để nghiên cứu lịch sử cận hiện đại Việt Nam. Trên thực tế chúng đã cung cấp được nhiều thông tin quan trọng cho các nhà nghiên cứu. Chúng ta có thể phân loại báo chí định kỳ theo nhiều cách như báo chí trước và sau Cách mạng t hang 8-1945; báo chí của ta và của địch; báo chí trong và ngoài nước có nói đến những vấn đề của lịch sử Việt Nam; báo chí bằng tiếng Việt và bằng các thứ  tiếng khác; báo chí trung ương và báo chí địa phương v.v…
Trong các loại báo chí định kỳ, chúng ta cần đặc biệt chú ý đến báo chí cách mạng của ta qua các thời kỳ, bắt đầu từ báo Le Paria do Nguyễn Ái Quốc sang lập ở Pháp đến báo Thanh niên và các loại báo chí khác về sau. Cần nhấn mạnh rằng báo chí cách mạng của chúng ta có một truyền thống rất tốt đẹp. Trải qua các thời kỳ đấu tranh cách mạng của Đảng và nhân dân ta, báo chí cách mạng Việt Nam đã xứng đáng là “người tuyên truyền tập thể, người cổ động tập thể, người tổ chức tập thể” như V-I.Lênin dạy. Báo chí cách mạng Việt Nam đã phản ảnh kịp thời, sinh động, cụ thể, một cách toàn diện về tình hình chính trị – xã hội, về đường lối, chủ trương, chính lớn của ĐẢng và Nhà nước ta về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…về những hoạt động của Đảng và Nhà nước ta trong phạm vi quốc gia và quốc tế, về quan hệ giữa Đảng và quần chúng Cho nên nghiên cứu báo chí cách mạng Việt Nam sẽ giúp cho chúng ta hiểu biết nhiều vấn đề đwong thời như qua một cuốn lịch sử xã hội (5).
Khi phân loại các báo chí định kỳ, chúng ta cũng cần chú ý thêm về đặc điểm của các thông tin mà báo chí phản ảnh và chức năng của mỗi loại báo chí; ví như: báo chí chính trị, báo chí văn hóa-nghệ thuật, báo chí nghiên cứu, báo chí chung, báo chí của từng ngành, v.v..
c) Tài liệu của các chính quyền cũ
Những tài liệu này một phần hiện đang được bảo quản trong các kho lưu trữ của chúng ta; một phần đáng kể đã bị chuyển ra nước ngoài (Pháp, Mỹ). Những nguồn sử liệu này cũng chưa được khai thác mấy, gồm có những tài liệu nói về hoạt động của các cơ quan chính quyền cũ trước Cách mạng tháng 8-1945, của ngụy quyền Bảo Đại trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và ngụy quyền Sài Gòn trước ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (1975); những tài liệu về phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta do các chính quyền thực dân-phong kiến và ngụy quyền điều tra để phục vụ cho mục đích thống trị của chúng; những thông tin sử liệu về đời sống kinh tế, xã hội của nước ta trong thời kỳ cận đại, trong những năm kháng chiến chống Pháp, và của miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Căn cứ vào đặc điểm, nội dung, hình thức, ngôn ngữ của tài liệu, chúng ta có thể phân loại thành các nhóm thích hợp; và khi sử dụng chúng, chúng ta cần chú ý đến quan điểm của người viết, họ đều đứng về phía kẻ thù của dân tộc, kẻ thù của nhân dân để viết.
g) Hồi ký gồm có: hồi ký cách mạng, hồi ký của những người hoạt động nổi tiếng trong các lãnh vực khác nhau của đời sống xã hội, hồi ký của người nước ngoài từng sống ở Việt Nam v.v..
h) Tác phẩm của những nhà hoạt động xã hội có tên tuổi, những người yêu nước nổi tiếng như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh v.v…
VI-2-2 Sử liệu vật thật
Nguồn sử liệu này cho đến nay hầu như rất ít được chú ý để nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời kỳ cận hiện đại. Chính qua nguồn sử liệu vật thật như nhà cửa, công cụ sản xuất, các phương tiện sinh hoạt… của các thời kỳ trước và sau Cách mạng tháng 8-1945 mà chúng ta có thể thấy được trên một mức độ nhất định sự phát triển của đời sống xã hội ở nước ta.
Các sử liệu vật thật cũng rất quan trọng đối với việc nghiên cứu lịch sử chiến tranh ở Việt Nam trong thời kỳ cận hiện đại.
Nguồn sử liệu vật thật này có thể chia thành các nhóm: Tư liệu sản xuất, nhà cửa và đồ dùng sinh hoạt, vũ khí và phương tiện chiến tranh, phòng tuyến, đồn lũy, địa đạo, giao thông hào trong các cuộc kháng chiến, các hiện vật liên quan đến từng sự kiện lịch sử riêng biệt. v.v…
Khi sử dụng nguồn sử liệu vật thật chúng ta cần đặt nó trong mối liên hệ chặt chẽ với các nguồn sử liệu khác.
IV-2-3. Sử liệu ngôn ngữ
Cũng như đối với lịch sử cổ trung đại Việt Nam, chúng ta cũng có thể dựa vào nguồn sử liệu ngôn ngữ để nghiên cứu lịch sử cận hiện đại Việt Nam. Kết quả khảo sát cho thấy trong mấy chục năm qua, đặc biệt là từ sau Cách mạng tháng 8-1945 đến nay, hàng  loạt khái niệm mới đã xuất hiện làm phong phú them cho ngôn ngữ nước ta. Các địa danh mới như tên xã, tên xóm, tên đội sản xuất, tên vùng kinh tế mới đã xuất hiện và thay đổi, phản ảnh những biến đổi sâu sắc trong lịch sử cận hiện đại Việt Nam. Bởi vậy nghiên cứu ngôn ngữ với tư cách là một nguồn sử liệu, chúng ta có thể rút ra được nhiều thông tin quan trọng.
IV-2-4 sử liệu ảnh, phim điện ảnh và ghi âm
Nếu như trước Cách mạng tháng 8-1945 nguồn sử liệu này còn tương đối hiếm, chỉ có thể xem nó như là những tài liệu minh họa cho các nguồn sử liệu khác, thì trái lại từ sau Cách mạng  tháng 8-1945 đến nay nó ngày càng phong phú. Loại sử liệu này có khản năng ghi lại trực tiếp những sự kiện lịch sử bằng kỹ thuật. Nó có thể giúp cho nhà nghiên cứu không những đọc được những sự kiện lịch sử mà còn thấy được chúng đã diễn ra như thế nào, cảm thụ được những diễn biến lịch sử qua hình ảnh và tiếng nói. Khi phân loại nguồn sử liệu này chúng ta cần chú ý phân biệt loại tài liệu ghi chép các hiện tượng thực tế và loại tài liệu nghệ thuật vì chúng rất khác nhau về tính chất và chế độ tin cậy.
Đối với tài liệu ảnh và phim điện ảnh, chúng ta cũng cần phân biệt tác giả của chúng đứng trên quan điểm nào khi ghi lại các sự kiện lịch sử qua ống kính. Các tấm ảnh, các bộ phim  quay theo quan điểm đối lập thì cần phân loại thành một nhóm riêng.
Về phim điện ảnh, ảnh, tài liệu ghi âm đều phải phân loại theo thời  gian, địa điểm đã hình thành tài liệu, phân biệt loại quay, chụp trực tiếp sự kiện với loại được dựng lại về sau.
Trên đây là một vài nhóm sử liệu của lịch sử Việt Nam mà chúng tôi thử phân loại sơ bộ, mong các nhà sử học và sử liệu học ở nước ta trao đổi, góp ý kiến  thêm. Mặt khác, một số nhóm sử liệu nêu lên ở đây chúng tôi cũng chỉ mới xem xét sơ bộ mà không có sự phân tích sâu sắc, so sánh, đối chiếu với các nhóm sử liệu khác của lịch sử dân tộc vì do khuôn khổ của bài báo không cho phép. Vả lại đó là một vấn đề khác của sử liệu học: Vấn đề phân tich, phê phán các nguồn sử liệu, chúng tôi xin bàn đến ở bài sau.
Ngoài ra còn một số nhóm sử liệu của thời kỳ tiền sử, sơ sử, sử liệu của từng giai đoạn nhỏ trong lịch sử Việt Nam, chúng tôi cũng chưa có điều kiện nghiên cứu và trình bày ở đây. Mong rằng sẽ có dịp trở lại vấn đề này ở một công trình rộng lớn hơn với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu khác.
————————-
Chú thích:
(1)  Xem: Nguyễn Văn Thâm – Phan Đại Doãn “mấy vấn đề của sử liệu học lịch sử Việt Nam”, Nghiên cứu lịch sử, số 5, 1984.
(2) (3) V.I.Lênin “Toàn tập” tập 27, Nxb Tiến bộ, Matxicova, 1980, tr. 233.
(4) Xem: Cao Văn Lượng – Phạm Quang Toàn- Quỳnh cư- “Tìm hiểu phong trào Đồng khởi ở miền nam Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1981.
(5) Xem: Nguyễn Thành – “Báo chí cách mạng Việt Nam”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội,

 

Nguyễn Văn Thâm – Phan Đại Doãn

www.vanthuluutru.com

Leave a Reply