Mấy ý kiến bước đầu về văn bản học trong công bố tài liệu văn kiện

Như mọi người đều biết, những vấn đề văn bản học gắn liền một cách hữu cơ với đối tượng và nhiệm vụ của công bố học và được coi là một bộ phận rất quan trọng. Cần nhấn mạnh rằng, việc nghiên cứu những vấn đề văn bản học có tính đặc thù của nó, và phụ thuộc vào những tài liệu mà nó lấy làm cơ sở.

Phạm vi của văn bản học trong công bố tài liệu văn kiện khá rộng, nó liên quan tới nhiều vấn đề đa dạng và phức tạp khi nghiên cứu và chuẩn bị văn bản của văn kiện cho việc công bố. Trước hết và quan trọng nhất là nghiên cứu lịch sử hình thành văn bản (từ bản thảo đầu tiên đến văn bản cuối cùng đã sửa chữa, đánh máy, in hoặc chụp…) Chính các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lê Nin đã nhiều lần nhấn mạnh sự cần thiết phải chuẩn bị chu đáo để công bố các tác phẩm như “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” của C. Mác, “Ludwig Fererbach và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức” của Ph. Ăngghen…

Chúng ta hoàn toàn không nên xem những vấn đề văn bản học như là tổng số các biện pháp kỹ thuật của việc chuẩn bị văn bản để công bố. Chỉ trên cơ sở nghiên cứu kỹ càng nguồn gốc của văn bản, xác định cụ thể và chính xác các văn bản của văn kiện mơi có quyết định đúng đắn khi công bố một tài liệu nào đó. Nhà văn bản học và Sử học Xô-viết D.X.Likhatrep đã viết: “Chỉ có con đường nghiên cứu toàn bộ lịch sử văn bản như là một thể thống nhất, trọn vẹn mà không phải bằng cách phê phán ngẫu nhiên từng điểm riêng biệt mới có thể đạt được việc khôi phục lại được văn bản vốn có ban đầu của văn kiện”.

Đồng thời, đối với các nhà văn bản học, các nhà sử học, công bố học Xô-viết, một điều hiển nhiên là không thể nghiên cứu sự thay đổi lời văn của văn kiện mà tách rời với nội dung của nó ( ở đây được hiểu theo nghĩa rộng nhất của từ) nhất là các khuynh hướng chính trị, ý đồ về nghệ thuật, vv…), đồng thời cũng không thể nghiên cứu nội dung trong sự tách rời với toàn bộ hoàn cảnh lịch sử nói chung…”1

Như vậy, văn bản học trong vấn đề công bố tài liệu văn kiện có phạm vi rất rộng và rất phức tạp. Trong phạm vi rộng và phức tạp đó, chúng tôi sẽ đi vào một vài khía cạnh như xác định nguồn gốc văn bản, truyền đạt văn bản của văn kiện…

Việc xác định nguồn gốc của văn bản có quan hệ rất chặt chẽ với việc tổ chức và kế hoạch hoá công tác công bố tài liệu văn kiện, với cách thức và phương pháp tìm kiếm tài liệu, mặc dầu những vấn đề này không thuộc khái niệm văn bản học. Công việc này hoàn toàn không phải là một việc dễ dàng. Bởi vì, một tài liệu, một tác phẩm thường thường không chỉ có một mà có thể có một số bản. Có thể nói rằng, xác định nguồn gốc của văn bản, lựa chọn được những văn bản chính xác để công bố là công việc phức tạp, phong phú và cũng khá hấp dẫn đối với những ai quan tâm đến công tác công bố tài liệu văn kiện. Giáo sư M.X.XIêzônhốp đã viết: “xác định nguồn gốc của văn bản càng phức tạp bao nhiêu thì mối quan hệ của những vấn đề văn bản học đối với cá vấn đề khác của công bố học càng đa dạng, phong phú bấy nhiêu. Và mỗi một vấn đề đều có ý nghĩa giá trị riêng, song nói chung thì chúng đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau”2. Trong vấn đề này những tri thức về sử liệu học sẽ giúp ích và hỗ trợ rất nhiều cho các nhà công bố học. Song, cũng cần chú ý rằng, có trường hợp khi phân tích văn bản học mang tính độc lập và không có quan hệ trực tiếp đến nhiệm vụ công bố thì sự phân tích đó được coi là một bộ phận cấu thành của Sử liệu học.

Như trên đã nói, có văn bản khi chuẩn bị công bố không phải bao giờ cũng chỉ có một bản. Gặp trường hợp này, các nhà công bố học phải hết sức thận trọng sưu tầm phát hiện tất cả các văn bản có liên quan đến một tài liệu cụ thể nào đó. Chẳng hạn, đến nay, chúng ta có thể gặp một số chi tiết khác nhau của chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” của Ban Thường vụ Trung ương  Đảng ra ngày 12-3-1945. Gặp trường hợp như vậy đòi hỏi các nhà công bố học phải có tinh thần trách nhiệm rất cao trong việc xem xét kỹ lưỡng từng văn bản, và phải sưu tầm tất cả mọi văn bản có liên quan để lựa chọn văn bản chính xác nhất. Ví dụ khác, khi xuất bản Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1 (1920-1925), những người biên tập đã đưa vào cả những tài liệu có thể là của Chủ tịch Hồ Chí Minh như “Liên minh thuộc địa”3. Vì còn có những điều nghi vấn về tác giả của tài liệu nên tài liệu này được đưa vào mục “Những văn kiện có thể là của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Điều này càng nói lên tính chất phức tạp và khó khăn khi xác định nguồn gốc văn bản của văn kiện.

Trong những văn bản cổ còn lưu trữ được đến ngày nay, khi công bố chúng nhất thiết phải làm sáng tỏ hệ thống các dị bản, xem xét kỹ lưỡng từng văn bản để quyết định công bố một văn bản nào đó có đầy đủ căn cứ khoa học. Chẳng hạn, hiện tại chúng ta có 2 bản Lam sơn thực lục (chép tay) ký hiệu A26 và VHV.1965 lưu trữ tại Viện thông tin Khoa học xã hội. Hai bản này có những điểm khác nhau nhất định. Đây là cuốn sách xưa nhất về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo chống lại ách xâm lược của nhà Minh. Tài liệu này được in trong Nguyễn Trãi toàn tập, Viện Sử học thuộc Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam đã làm những công việc công phu, xác minh nhiều khoá cạnh của tài liệu để từng bước khôi phục lại bộ mặt thật của nó. Một ví dụ khác cũng rất đáng quan tâm là việc xuất bản tác phẩm “Đại Việt sử ký toàn thư” gồm 15 cuốn của Ngô Sĩ Liên và các sử gia phong kiến khác. Đây là một công trình biên soạn lịch sử đồ sộ và có giá trị lớn. Từ trước đến nay Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã công bố theo văn bản mà ở nước ta còn lưu trữ được. Nhưng đâu là bản gốc? Đâu là bản xưa nhất mà chúng ta có? Đó là những câu hỏi mà giới nghiên cứu sử học nước ta đã và đang để nhiều công sức sưu tầm, tìm kiếm để có thể đưa ra lời giải đáp khoa học và chính xác nhất4.

Ngày nay chúng ta có rất nhiều tài liệu văn kiện do các cơ quan, đoàn thể xí nghiệp, công, nông trường, bệnh viện, trường học, đơn vị quân đội… sản sinh ra trong quá trình hoạt động. Những tài liệu văn kiện này hiện được lưu trữ trong các kho lưu trữ từ Trung ương đến các địa phương. Ví dụ: Kho lưu trữ Nhà nước Trung ương Trung ương ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, Kho lưu trữ Trung ương Đảng, Kho lưu trữ các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương… Những tài liệu lưu trữ ở đây có thể nói là một nguồn sử liệu viết vô cùng phong phú và quí giá đã được tạo nên bằng cả mồ hôi và xương máu của bao nhiêu thế hệ cha anh. Phần lớn những tài liệu văn kiện được bảo quản ở đây đều thuộc về những văn bản quản lý5. Đối với loại văn bản này có những yếu tố rất cơ bản làm chuẩn mực để xem xét văn bản đó là bản chính hay là bản sao, bản thảo hay là bản viết nháp… Và khi nói đến một văn bản quản lý của Nhà nước, thì cần chú ý đến các yếu tố như: tiêu đề, tác giả, thời gian, địa điểm viết văn bản, số, ký hiệu văn bản, dấu, chữ ký… Ví dụ bản “Quy chế Bảo tàng tỉnh, thành phố” do Bộ trưởng Bộ Văn hoá và Thông tin ban hành ngày 9-4-1980 là một văn bản quản lý. Văn bản này bao gồm đầy đủ các yếu tố như:

Tiêu đề: Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Tác giả: Bộ Văn hoá và Thông tin

Địa điểm ra văn bản: Hà Nội,

Thời gian: 9-4-1980

Số ký hiệu văn bản: 722 – VHTT

Dấu: Quốc huy

Chữ ký: Bộ trưởng Nguyễn Văn Hiếu.

Song, lại có những văn bản thuộc về văn bản quản lý, những không phải bao giờ cũng có đủ các yếu tố nói trên. Ví dụ: Biên bản Hội nghị thanh niên thủ đô tích cực tham gia xây dựng kinh tế văn hoá miền núi ngày 31-12-1964 hoặc nhiều biên bản của các Hội nghị khác. Trong hệ thống văn bản quản lý không hiếm những văn bản dưới dạng dự thảo như Dự thảo báo cáo, dự thảo nghị quyết… (không có báo cáo và nghị quyết chính thức). Gặp những trường hợp này, vấn đề xác định văn bản nào sử dụng để công bố ra hết sức quan trọng. Trước hết phải sưu tầm đầy đủ, các văn bản sau đó xác minh, đối chiếu tìm ra bản thảo cuối cùng để công bố, nhưng phải chú thích rõ “công bố theo bản thảo, vì không có bản chính thức”…

Lại có rất nhiều tài liệu không rõ hoặc không có thời gian sản sinh ra văn bản. Ví dụ, bài nói chuyện “Chúng ta phải hy sinh không điều kiện cho Tổ quốc”. Đây là bài nói chuyện của đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Uỷ viên Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam với lực lượng thanh niên xung phong trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Tài liệu không có ngày tháng. Tuy nhiên, trong tài liệu có một số chi tiết gợi mở cho chúng ta có thể xác định được thời gian của nó. Trong tài liệu có đoạn viết“… lá cờ của Tổ quốc nhuộm máu thanh niên đã 5 năm trời…”6 “thanh niên phải vươn mình ra làm cho năm 1951 như Hồ Chủ  Tịch tuyên bố: năm 1951 phải là năm đại thắng lợi…!”. “ nếu trên chiến trường công tác thanh niên tiến bộ, nhân dân hăng hái thì chắc chắn năm 1951, thắng lợi của chúng ta phải lớn lao…”. Và một chi tiết quan trọng là: “ ngày 18-12 tôi lên gặp Hồ Chủ tịch…” (những chỗ gạch dưới là của chúng tôi nhấn mạnh –  TG). Với tất cả những chi tiết nêu trên, dùng phương pháp so sánh, đối chiếu, chúng ta hoàn toàn có thể xác minh được ngày tháng của tài liệu này sản sinh ra vào những ngày hạ tuần tháng 12 năm 1950, tức là không thể “trước” ngày 18-12-1950 được.

Sử dụng các chi tiết về nội dung của tài liệu, đem so sánh, đối chiếu chúng với nhau, chúng ta có thể xác định khá chính xác thời gian nhiều tài liệu mà  Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết và nói trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược như “ Thư gửi thanh niên Pháp”, “ Thanh niên Pháp chống chiến tranh ở  Việt Nam”, “Kế hoạch Na Va đầu voi đuôi chó”7

Một nội dung quan trọng khác của văn bản học trong công tác công bố tài liệu văn kiện là truyền đại văn bản của văn kiện. Vấn đề này có những nguyên tắc và phương pháp của nó. Thông thường Nhà nước ban hành các bản “Quy tắc công bố tài liệu văn kiện” mẫu làm chuẩn mực cho các cơ quan và cán bộ làm công tác công bố tài liệu văn kiện dựa vào để thực thi nhiệm vụ của mình. Ví dụ, ở Liên Xô nguyên tắc chính về truyền đạt văn bản được quy định như sau: “ Những nguyên tắc truyền đạt văn bản của các văn kiện tuỳ thuộc vào thời điểm xuất phát của các văn kiện và kiểu xuất bản phẩm.

Trong tất cả mọi xuất bản phẩm, văn bản của các văn kiện được truyền đạt bằng cách giữ đúng những đặc điểm phong cách và ngôn ngữ”8.

Phạm vi của truyền đạt văn bản của văn kiện trong công bố rất rộng và rất phức tạp. Và đối với mỗi kiểu xuất bản phẩm thì có phương pháp truyền đạt khác nhau. Ví dụ, đối với các xuất bản phẩm kiểu khoa học thì ngoài việc tái hiện lại nguyên bản của tài liệu thì còn dẫn ra cả các dị bản của nó. Nếu văn bản được viết bằng chữ Hán, chữ Nôm hoặc chữ Pháp… thì ngoài bản dịch còn kèm theo cả nguyên bản chữ Hán, chữ Nôm hoặc chữ Pháp… Điều này hết sức cần thiết đối với những người làm công tác nghiên cứu. Ví dụ, khi công bố văn bản Ức Trai thi tập của Nguyễn Trãi trong cuốn Nguyễn Trãi toàn tập9, thì ngoài phần phiên dịch đều có kèm theo nguyên bản chữ Hán như bài Thỉnh vũ (nghe mưa) trang 285-286). Đề Đông Sơn tự (Đề chùa Đông Sơn – trang 331). Hạ nhật mạn thành (ngày hạ làm chơi – trang 371 – 372) v.v… Đối với các kiểu xuất bản phẩm: kiểu khoa học phổ thông, kiểu giáo khoa thì chỉ cần công bố các bản phiên dịch là đủ. Bởi vì, đối với những độc giả có tính chất phổ cập, thì cách làm như trên chỉ làm rắc rối và phức tạp thêm mà thôi10.

Tính thận trọng và nghiêm túc của Ph.Ăng ghen khi đưa quyển II, III bộ “Tư bản” của C.Mác cho công chúng phê phán là một bài học bổ ích và sinh động đối với bất cứ ai quan tâm đến công tác công bố tài liệu văn kiện nói riêng và công bố học nói chung.

Như mọi người đều biết, sau khi C.Mác qua đời (1883), Ph.Ăng ghen đã để nhiều công sức chuẩn bị đưa in và xuất bản quyển II và quyển III bộ “Tư bản” – tác phẩm quan trọng nhất và vĩ đại nhất của Mác, người sáng lập chủ nghĩa Cộng sản khoa học. PhĂng ghen đặc biệt chú trọng truyền đạt chính xác văn bản của tác phẩm, trừ những chỗ cần thiết phải sửa đổi đôi chút thì PhĂng ghen đã nói rằng: nếu như C.Mác còn sống thì chính ông cũng sẽ làm như vậy. Ph.Ăng ghen đặt cho mình một nguyên tắc cơ bản để chỉ đạo cho công việc của mình là, ở những chỗ có thể, ông đã đóng khung công việc ở việc lựa chọn đơn thuần giữa các bản hiệu đính khác nhau. Ông cố gắng tối đa giải quyết các vấn đề theo đúng tinh thần của tác giả. Những chố bổ sung hoặc do ông xác minh văn bản của tác phẩm, thì hoặc là để xen kẽ trong các chú giải về văn bản hoặc là để trong dấu ngoặc vuông của chính văn bản được công bố. Về điều này chúng tôi xin dẫn ra dưới đây đoạn trích trong “phần bổ sung cho quyển III của bộ “Tư bản” mà Ph. Ăng ghen đã viết cách đây hơn thế kỷ để chúng ta cùng tham khảo và suy nghĩ. Ph. Ăng ghen viết: “…khi xuất bản nó (tức là quyển III của bộ “Tư bản” – TG), nhiệm vụ của tôi trước hết là cố soạn cho được một văn bản càng đúng với nguyên bản chừng nào hay chừng ấy và tôi đã cố gắng hết sức truyền đạt lại những kết quả cuối cùng của công trình nghiên cứu của Mác bằng những lời lẽ của chính bản thân ông và chỉ góp thêm phần của mình khi tuyệt đối không thể tránh được, hơn nữa trong những trường hợp ấy, không để lại cho bạn đọc một chút hoài nghi nào rằng ai đang nói với họ. Người ta trách tôi là đã làm như vậy; có ý kiến cho rằng tôi là đã làm như những tài liệu có trong tay mình thành một quyển sách trình bày có hệ thống on faire un livre11 như người Pháp thường nói: nói cách khác là tôi phải hy sinh nguyên bản để làm thuận tiện cho bạn đọc. Nhưng tôi đã không quan niệm nhiệm vụ của tôi như vậy. Tôi không có một chút quyền nào để soạn lại như thế: Một người như Mác có quyền đòi hỏi người ta nghe chính tiếng nói của mình, và những phát minh khoa học của ông phải được lưu truyền cho hậu thế đúng y như bản trình bày đích thực của chính ông. Hơn nữa, tôi không hề có ý muốn như thế trong những trường hợp khác – đến di sản của một người vĩ đại như Mác; đều có tôi coi là một sự phản bội”12.

Tóm lại, văn bản học trong công bố tài liệu văn kiện có phạm vi rộng và khá phức tạp. Điều đó trong giới hạn một bài báo nhỏ thật khó mà đáp ứng được. Cho nên, những điều mà chúgn tôi nêu trên đây chỉ mới có tính chất rất khái quát, gợi mở và xới vấn đề để bạn đọc tham khảo. Các vấn đề cụ thể về văn bản học trong công bố tài liệu văn kiện, chúng tôi sẽ có dịp trình bày ở những bài viết sau.

  Xuất bản phẩm nên hiểu theo nghĩa rộng của từ này. Đó có thể là một tập văn kiện công bố theo từng bộ sách, có thể chỉ một văn kiện công bố trên các tạp chí, báo chí định kỳ.

————————————–

1 D.X.Likhatrep. Văn bản học, Matxcơva-Lêninghrat, 1962 trang 23-24.
2 M.X.Xêlêzơnhốp. Văn bản học và vai trò của nó trong công bố học Xô viết. Matxcơva-1975, trang 3 (bản tiếng Nga).
3 Tài liệu viết bằng tiếng Pháp năm 1921, hiện nay được lưu trữ tại Phòng lưu trữ văn phòng Trung ương Đảng. Tài liệu này được in trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1 (1920-1925). Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội; 1981- trang 199-501.
4 Về công bố các văn bản cổ chúng tôi sẽ có dịp bàn đến ở một bài viết khác. Trong bài viết này, chúng tôi tập trung nhiều vào việc công bố các tài liệu văn kiện hiện đại.
5 Để hiểu được chính xác văn bản quản lý, chúng ta cần hiểu quản lý là sự tác động có mục đích lên những tập thể con người lao động để tổ chức, phối hợp hoạt động của họ nhằm đạt được những kết quả và mục đích nhất định đã vạch ra từ trước. Các văn bản quản lý là phương tiện và công cụ mà các cơ quan sử dụng trong quá trình hoạt động của mình để điều hành, phối hợp các hoạt động nói chung.
6 Kể từ ngày toàn quốc kháng chiến (19-12-1946) thì đến năm 1950 chúng ta đã trải qua 5 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
7 Xem Hồ Chí Minh toàn tập, tập VI, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1986, trang 480, 482, 488.
8. Xem tiết 47 của cuốn “Những quy tắc xuất bản văn kiện lịch sử ở Liên Xô” do Tiến sĩ sử học D.A.Trugae’p chủ biên, Matxcơva. 1969, trang 24 (bản tiếng Nga).
10 Nguyễn Trãi toàn tập. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976 (in lần thứ 2 có sửa đổi, bổ sung).
11 Có thể xem bài “Một số vấn đề truyền đạt văn bản của văn kiện trong công tác công bố tài liệu”. Tập san “Văn thư lưu trữ”, số 1-1982, trang 15,19.
12 Chữ dùng trong nguyên bản có nghĩa là lấy cái đó để viết thành một quyển sách.

 

PGS. Nguyễn Văn Hàm

 

 

Leave a Reply