Giá trị của nguồn tài liệu lưu trữ trong nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản Việt nam

Ví dụ 1: Về Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Căn cứ vào Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản1 của Nguyễn Ái Quốc (18/11/1930), thời gian bắt đầu họp Hội nghị không phải là ngày 3-2-1930, mà là ngày 6/1/1930. Thời gian kết thúc Hội nghị không hẳn là ngày 7/2/1930, mà chỉ biết chắc chắn là ngày 8/2/1930 thì các đại biểu dự Hội nghị về nước. Thành phần dự Hội nghị không phải là đại biểu của ba tổ chức cộng sản, mà chỉ có đại biểu của hai tổ chức (Đông Dương cộng sản đảng và An Nam cộng sản đảng). Nguyễn Ái Quốc là người đã đáp ứng yêu cầu khách quan của lịch sử, chủ động triệu tập và chủ trì Hội nghị, chứ không phải là “theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản”, hoặc “được sự ủy nhiệm của Quốc tế Cộng sản”. Như vậy, có tới ba chi tiết liên quan tới sự kiện Hội nghị hợp nhất phải thay đổi so với những kết quả nghiên cứu cũ: thời gian, thành phần và vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
Ví dụ 2: Về Luận cương chính trị tháng 10/1930
Trước đây, nhiều công trình nghiên cứu cho rằng, Hội nghị Hợp nhất đã thông qua Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt, nhưng cách mạng ngày cảng phát triển, đòi hỏi phải có một cương lĩnh đầy đủ hơn, nên Hội nghị lần thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng họp tháng 10/1930 đã “thông qua” bản Luận cương chính trị tháng 10/1930, và đi tới kết luận rằng Luận cương chính trị tháng 10/1930 đã “phát triển” Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Nhưng qua tài liệu lưu trữ thì không phải như vậy. Luận cương chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương chưa được Hội nghị thông qua, mà chỉ được công bố như một “Dự án để thảo luận trong Đảng”2 . Tuy nhiên, ngay sau đó, cao trào cách mạng bị thực dân Pháp đàn áp đẫm máu, toàn bộ Ban chấp hành Trung ương Đảng bị bắt, và bản Luận cương này tiếp tục được lưu hành trong Đảng như một văn kiện chính thức. Án nghị quyết của Trung ương toàn thể hội nghị tháng 10/19303 cho thấy Hội nghị lần thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng đã phê phán Hội nghị hợp nhất và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng có “sai lầm”, “chỉ lo đến việc phản đế, mà quên mắt lợi ích giai cấp tranh đấu”, “ấy là một sự rất nguy hiểm”. Từ đó Hội nghị đi tới quyết định “Thủ tiêu chánh cương sách lược và Điều lệ cũ của Đảng”4 . Như vậy, Luận cương chính trị tháng 10/1930 không phải là sự kế thừa và phát triển, mà là một sự thay đổi so với Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.
Ví dụ 3: Bản chỉ thị Toàn dân kháng chiến5 của Trung ương Đảng
Theo nguồn tài liệu lưu trữ thì Trung ương Đảng ra bản chỉ thị này không phải vào ngày 22/12/1946, tức là sau ngày toàn quốc kháng chiến bùng nổ (19/12/1946), mà là ngày 12/12/1946 (trước ngày toàn quốc kháng chiến bùng nổ). Điều đó thể hiện quan điểm bạo lực cách mạng kết hợp với quan điểm nhân đạo và hòa bình của Đảng. Trong khi nỗ lực cứu vãn hòa bình, đàm phán, thương lượng và nhân nhượng với thực dân Pháp, Đảng vẫn chủ động chuẩn bị về mọi mặt, không chỉ về lực lượng cách mạng, mà cả về đường lối chiến tranh nhân dân, nhằm sẵn sàng đối phó với khả năng xấu nhất là phải tiến hành chiến tranh.
Như vậy, với những tài liệu lưu trữ, việc nghiên cứu về Lịch sử Đảng có điều kiện thuận lợi hơn trong quá trình tiếp cận các sự kiện và quá trình Lịch sử Đảng, có thể thấy được các sự kiện đầy đủ và chính xác hơn, làm thay đổi nhận thức không chỉ về nội dung sự kiện, mà cả sự luận giải khoa học.

2. Tài liệu lưu trữ tạo điều kiện giải quyết nhiều vấn đề mà các cơ quan và nhà khoa học phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu

Có những vấn đề về Lịch sử Đảng, nhất là đường lối cách mạng của Đảng được trình bày theo nhận thức của các cơ quan và nhà nghiên cứu khác nhau, dẫn tới những cách hiểu và trình bày vấn đề khác nhau. Xin đơn cử một ví dụ về chủ trương “thay đổi chiến lược” của Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng (5/1941):
“Thay đổi chiến lược” là khái niệm được sử dụng chính thức trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám của Ban chấp hành Trung ương Đảng (5-1941). Hội nghị chỉ rõ: “Cần phải thay đổi chiến lược. Sự thay đổi về kinh tế, chính trị Đông Dương, lực lượng giai cấp Đông Dương, buộc Đảng ta phải thay đổi chính sách cách mạng ở Đông Dương cho hợp với nguyện vọng chung của toàn thể nhân dân Đông Dương…” Nhiệm vụ đánh Pháp đuổi Nhật “không phải riêng của giai cấp vô sản và dân cày, mà là nhiệm vụ chung của toàn thể nhân dân Đông Dương”, “cuộc cách mạng ở Đông Dương hiện tại không phải là một cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền địa nữa, mà là một cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp “dân tộc giải phóng””6.
“Thay đổi chiến lược” là vấn đề không thể bàn cãi, nhưng xuất phát từ những nhận thức khác nhau, nhiều giáo trình và bài viết đã sử dụng những khái niệm khác nhau khi trình bày về chủ trương của Đảng trong thời kỳ vận động cứu nước 1939-1945: “chuyển hướng chỉ đạo chiến lược”, “chuyển hướng chiến lược”, “điều chỉnh chiến lược” và “thay đổi chiến lược”.
Vậy đâu là cách trình bày đúng với Văn kiện Đảng? Tựu chung, việc sử dụng nhiều khái niệm trên đây có thể phân chia thành hai loại ý kiến: (1) Có sự thay đổi chiến lược (chuyển hướng chiến lược, điều chỉnh chiến lược – tương đồng với thay đổi chiến lược), và (2) Không có sự thay đổi chiến lược, mà chỉ là sự thay đổỉ về chính sách (chuyển hướng chỉ đạo chiến lược). Về mặt lôgic, giữa hai ý kiến khác nhau thì chỉ có thể có một ý kiến đúng, hoặc cả hai cùng sai.
Như vậy, có hai vấn đề cần quan tâm nghiên cứu:
1- Không có sự thay đổi chiến lược như trong nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng đã trình bày. Như thế sẽ đi tới kết luận: nghị quyết của Đảng viết là A, nhưng chúng ta có thể hiểu là B. Điều đó tạo ra một tiền đề rất nguy hiểm. Đáng tiếc là hiện nay vẫn còn không ít nhà nghiên cứu vẫn theo hướng tư duy này.
2- Có sự thay đổi về chiến lược, đúng như văn kiện Đảng đã trình bày. Nhưng cần làm rõ nội dung thay đổi là gì? Phải chăng ngay từ năm 1930, từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên đến Luận cương chính trị tháng 10/1930 đã có sự thay đổi, từ chiến lược đấu tranh dân tộc sang chiến lược đấu tranh giai cấp? Và đến giai đoạn 1939-1945 có sự thay đổi ngược lại, từ chiến lược đấu tranh giai cấp trở về với chiến lược đấu tranh dân tộc, đúng như Cương lĩnh chính trị đầu tiên?
Để giải quyết những vấn đề như thế, đòi hỏi phải nghiên cứu một cách toàn diện, phải tìm hiểu tình hình thực tiễn xã hội thuộc địa, phải đề cập nhiều tài liệu khác, bao gồm những bái nói, bài viết của Hồ Chí Minh và nhiều văn kiện khác của Đảng có liên quan đến chiến lược cách mạng ở thuộc địa, khác với chiến lược đấu tranh giai cấp của các Đảng Cộng sản ở các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây thời đó.
Cần nghiên cứu toàn văn các văn kiện của Đảng, không chỉ là các nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 (11/1939) và lần thứ 8 (5/1941) của Ban chấp hành Trung ương Đảng, mà cả một số văn kiện trước đó, nhất là tác phẩm Đường kách mệnh của Nguyễn Ái Quốc, Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam và Luận cương chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương (Dự án cương lĩnh). Ngay trong tác phẩm Đường kách mệnh, Nguyễn Ái Quốc đã sử dụng khái niệm “dân tộc cách mạng”. Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng (11/1939) cho rằng “chiến lược cách mệnh tư sản dân quyền bây giờ cũng phải thay đổi ít nhiều cho hợp với tình thế mới”7.
Liên quan đến chủ trương thay đổi chiến lược còn có nhiều văn kiện trong thời gian sau Hội nghị lần thứ 8, lưu tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng, nhấn mạnh nhiệm vụ giải phóng dân tộc, như Lời kêu gọi đồng bào, các đảng phái cách mạng và các dân tộc bị áp bức ở Đông Dương, Thư của Ban Trung ương đảng gửi các chiến sĩ Bắc Sơn, Cuộc chiến tranh Thái Bình dương và trách nhiệm cần kíp của Đảng…
Nghị quyết Ban Thường vụ Trung ương Đảng (2/1943) khẳng định “không thể hoàn thành luôn một lúc hai nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân chủ là: cách mạng dân tộc giải phóng và cách mạng thổ địa”. “Lúc này, nhiệm vụ dân tộc giải phóng cần kíp và quan trọng hơn. Nên Đảng phải thống nhất mọi lực lượng cách mạng đặng mau hoàn thành nhiệm vụ ấy trước… Do đó khẩu hiệu thổ địa cách mạng không thể đặt ra lúc này. Như thế chiến lược của Đảng có thay đổi ít nhiều chứ không phải chỉ có chiến thuật mà thôi…”8.
“Thay đổi chiến lược” là một chủ trương của đảng, được trình bày trong trong nhiều văn kiện chính thức, chứ không phải trình bày một lần duy nhất trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương (5/1941), và nội dung sự thay đổi được giải thích một cách rõ ràng, với điểm then chốt là giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất.
Như vậy, nếu như căn cứ vào nhiều văn kiện của Đảng, chúng ta mới hiểu một cách chắc chắn chủ trương thay đổi chiến lược là đúng, mà nếu như cố tình hiểu khác đi thi vô hình chung là sự xuyên tạc đường lối của Đảng.

3. Nguồn tài liệu lưu trữ với độ tin cậy cao giúp các cơ quan và nhà nghiên cứu thẩm định các nguồn tài liệu khác có liên quan đến lịch sử Đảng

Trong công tác nghiên cứu Lịch sử Đảng, có hai nguồn tài liệu cơ bản: tài liệu thành văn và tài liệu chưa thành văn. Hai nguồn tài liệu này có tác dụng bổ sung cho nhau. Nguồn tài liệu thành văn, cho dù là đầy đủ, nhưng cũng không thể phản ánh hết được những hoạt động phong phú, sinh động của các cấp bộ đảng và phong trào quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Ngược lại, nguồn tài liệu chưa thành văn, được khai thác qua những nhân chứng lịch sử bao gồm cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, những người trực tiếp tham gia hoặc chứng kiến các sự kiện lịch sử, lại cần được thẩm định trên cơ sở các tài liệu thành văn. Sau đây là một ví dụ cụ thể về chủ trương thành lập một Chính phủ cộng hòa và là quốc kỳ là cờ đỏ sao vàng năm cánh:
Hồi ký của Nguyễn Thiệu – tức Nghĩa – người cùng bị giam với Trần Phú tại Khám Lớn (Sài Gòn) năm 1931, cho biết: “Trần Phú thường xuyên trao đổi với anh em tù chính trị về tình hình và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam. Anh tổ chức những buổi huấn luyện chính trị cho anh em trong tù. Khi giảng về thời kỳ Đảng lãnh đạo chính quyền, đồng chí Trần Phú nói rằng: Ở một nước thuộc địa như ta nếu đánh đổ được đế quốc phong kiến thì cần thành lập một chính phủ cộng hoà và lá quốc kỳ nên là một lá cờ nền đỏ và sao vàng năm cánh”9.
Căn cứ vào các văn kiện Đảng trong thời gian đồng chí Trần Phú làm Tổng Bí thư của Đảng (từ tháng10/1930 đến tháng 4/1931), nổi lên chủ trương nhấn mạnh đấu tranh giai cấp, tiến hành cuộc cách mạng tư sản dân quyền với hai nhiệm vụ điền địa và phản đế, coi “vấn đề thổ địa là cái cốt của cuộc cách mạng tư sản dân quyền”, thành lập chính quyền công-nông-binh (chính quyền của quần chúng lao động), thì ý tưởng thành lập một “chính phủ cộng hòa” (chính quyền của tất cả lực lượng đã tham gia cách mạng giải phóng dân tộc) là một vấn đề rất mới mẻ. Hơn nữa, từ khi đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản Đông Dương, vấn đề chính quyền cũng được đặt ra trên phạm vi toàn Đông Dương. Trần Phú có ý tưởng thành lập “ở nước ta” một “Chính phủ cộng hòa” thì quả là khó hình dung, vì như thế Trần Phú đã ý thức được phải giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước ở Đông Dương. Phải chăng đây là một bước ngoặt mang tính cách mạng trong tư tưởng của Trần Phú sau khi bị thực dân Pháp bắt giam? Liệu Hồi ký của Nguyễn Thiệu có đủ độ tin cậy để khẳng định vấn đề này?
Căn cứ vào nguồn tài liệu lưu trữ, có thể khẳng định chủ trương của Đảng về việc thành lập chính quyền nhà nước với hình thức cộng hòa dân chủ được đề ra lần đầu tiên tại Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng (11/1939). Nghị quyết của Hội nghị ghi rõ: “Lập Chính phủ Liên bang Cộng hòa dân chủ Đông Dương”10. Đến Hội nghị lần thứ 8 (5/1941), cùng với chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong phạm vi từng nước ở Đông Dương, thực hiện quyền dân tộc tự quyết, Trung ương Đảng chủ trương: “các dân tộc sống trên cõi Đông Dương sẽ tùy theo ý muốn tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng riêng thành lập một dân tộc quốc gia tùy ý”. “Riêng dân tộc Việt Nam, một dân tộc đông và mạnh hơn hết ở Đông Dương, sau lúc đánh đuổi được Pháp – Nhật sẽ thành lập một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa theo tinh thần tân dân chủ. Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của một giai cấp nào mà là của chung cả toàn thể dân tộc, chỉ trừ có bọn tay sai của đế quốc Pháp – Nhật, và những bọn phản quốc, những bọn thù, không được giữ chính quyền, còn ai là người dân sống trên dải đất Việt Nam thảy đều được một phần tham gia giữ chính quyền, phải có một phần nhiệm vụ giữ lấy và bảo vệ chính quyền ấy”. Trong công tác tuyên truyền, “không nên nói công nông liên hiệp và lập chính quyền Xô viết, mà phải nói toàn thể nhân dân liên hợp và lập chính phủ dân chủ cộng hòa”11.
Về lá cờ đỏ sao vàng năm cánh, ngoài ý kiến của Nguyễn Thiệu cho rằng Trần Phú đã nghĩ tới từ đầu năm 1931, còn có ý kiến cho rằng người vẽ lá cờ đỏ sao vàng đầu tiên là Nguyễn Hữu Tiến – tức giáo Hoài, khi bị bắt (30/7/1940) đang tham gia Xứ uỷ Nam kỳ12. Liệu có đúng không vào thời điểm đầu năm 1931, Trần Phú đã nghĩ tới một là cờ riêng của “nước ta”? Trong các văn kiện của Đảng từ khi Đảng ra đời đến trước Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương (5/1941) không có bất cứ tài liệu nào nói tới việc đó. Trong Chương trình Việt Minh, một văn kiện kèm theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, nêu rõ: “Sau khi đánh đuổi được đế quốc Pháp, Nhật, sẽ thành lập một chính phủ nhân dân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lấy lá cờ đỏ ngôi sao vàng năm cánh làm lá cờ toàn quốc”13. Ý kiến của Nguyễn Thiệu trong Hồi ký của ông cần được thẩm định một cách nghiêm túc.

4. Sự cần thiết phải công bố các tài liệu lưu trữ về Lịch sử Đảng

Trong sự nghiệp đổi mới, khoa học Lịch sử Đảng có điều kiện phát triển và đạt được nhiều thành tựu, có tác dụng khẳng định vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam.
Nhiệm vụ của khoa học Lịch sử Đảng hết sức nặng nề. Trên Tạp chí Lịch sử Đảng hơn 20 năm qua đã có nhiều bài viết thẳng thắn yêu cầu khắc phục những hạn chế trong các công trình nghiên cứu Lịch sử Đảng, xác định nhiệm vụ cụ thể đối với khoa học Lịch sử Đảng: “Khi trình bày những quyết sách của Đảng, không chỉ giới thiệu tóm tắt các văn kiện, mà cần phản ánh nhiều chiều bằng những quan điểm, luận cứ được đưa ra thảo luận để đi tới quyết định: những biện pháp tổ chức, triển khai đường lối,, chủ trương, nghị quyết của Đảng trong thực tiễn, tính chủ động sáng tạo của các cấp bộ đảng, của cán bộ, đảng viên và nhân dân”. “Trình bày đúng mức vai trò và cống hiến, hy sinh lớn lao của các tầng lớp nhân dân trong tiến trình lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ và xây dựng đất nước”. “Nêu bật mối quan hệ hữu cơ, sâu rộng giữa Đảng và dân tộc”. Phải trình bày theo hai chiều mối quan hệ giữa Đảng ta với các Đảng Cộng sản và nhiều tổ chức quốc tế; phản ánh đúng những thành công, nhưng đồng thời phải “trình bày và lý giải những sai lầm, khuyết điểm của Đảng trong tiến trình lãnh đạo cách mạng…”; “Cần vận dụng tư duy và phương pháp đổi mới để nghiên cứu và xử lý những vấn đề tồn đọng, chưa được nghiên cứu thấu đáo, chưa được làm sáng tỏ do thiếu tư liệu hoặc sử dụng các tư liệu chưa đảm bảo độ tin cậy, do định kiến hoặc cách xem xét lý giải một chiều. Thêm nữa, có những vấn đề, sự kiện và nhân vật tuy đã được nghiên cứu, đánh giá, nhưng xét thấy chưa thỏa đáng, cũng cần cải chính, hiệu chỉnh cho phù hợp với sự thật”14.
Để hoàn thành những tâm nguyện đó, các cơ quan và nhà nghiên cứu cần có một cơ sở tư liệu vững chắc, nhất là tài liệu lưu trữ về Lịch sử Đảng. Trong các tài liệu thành văn thì tài liệu lưu trữ là nguồn tài liệu cơ bản nhất, với độ tin cậy cao nhất, trực tiếp cung cấp những sử liệu chính xác.
Yêu cầu quan trọng trong việc nghiên cứu Lịch sử Đảng là phải căn cứ vào các nguồn sử liệu của Đảng, nhất là Văn kiện Đảng Toàn tập và Hồ Chí Minh Toàn tập. “Với bộ Văn kiện Đảng Toàn tập, tất cả những người cần nghiên cứu và sử dụng văn kiện Đảng đều có thể dễ dàng tìm thấy những tài liệu chính thức và xác thực”. “Việc xuất bản Văn kiện Đảng Toàn tập nhằm cung cấp những tư liệu lịch sử, có hệ thống cho công tác nghiên cứu lý luận, nghiên cứu và biên soạn lịch sử Đảng.” “Công bố các văn kiện Đảng cũng là để cung cấp một nguồn tư liệu chứa đựng những thông tin chân thực, chống lại những luận điệu xuyên tạc, làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ hơn hoạt động của Đảng và phong trào cách mạng của nhân dân, đồng thời cũng giới thiệu với bạn bè quốc tế về lịch sử vẻ vang và những bài học kinh nghiệm của Đảng ta”15.
Đến nay đã có nhiều tài liệu lưu trữ đã được công bố trong Văn kiện Đảng toàn tập (54 tập) và Hồ Chí Minh toàn tập (12 tập) và một số sách khác của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, nhưng vẫn còn rất nhiều tài liệu chưa được công bố do nhiều lý do khác nhau, đặc biệt là các biên bản đại hội Đảng và hội nghị Trung ương Đảng.
Do điều kiện Đảng phải trải qua những thời kỳ hoạt động bí mật và chiến tranh, ảnh hưởng rất nhiều đến tình trạng các tài liệu lưu trữ về Lịch sử Đảng, nhiều tài liệu đánh máy, in thạch, viết tay bằng nhiều thứ tiếng: Việt, Pháp, Trung Quốc, Nga, Anh, Đức, gây ra nhiều khó khăn, phức tạp trong việc giám định, dịch thuật…
Tuy nhiên với những nỗ lực của các cơ quan hữu trách và những người làm công tác lưu trữ, hy vọng rằng các tài liệu lưu trữ sẽ được xuất bản ngày càng đầy đủ hơn trong bộ sách Văn kiện Đảng toàn tập, giúp cho việc nghiên cứu Lịch sử Đảng đạt được những thành công mới.

————————————-

1. Bản báo cáo này viết bằng tiếng Anh (ký tên Nguyễn Ái Quốc bằng tiếng Nga), lưu tại Kho Lưu trữ Trung ương Đảng, đã được xuất bản trong Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 3, (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 11-18), và Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 2 (Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 1998, tr. 18-25).
2. Luận cương chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương (Dự án để thảo luận trong Đảng), lưutại Kho Lưu trữ Trung ương Đảng, đã được xuất bản trong Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr. 88-103.
3. Nguyên văn là: Án nghị quyết của Trung ương toàn thể Đại hội nói về tình hình hiện tại ở Đông Dương và nhiệm vụ cần kíp của Đảng 10-1930, tài liệu lưu tại Kho Lưu trữ Trung ương Đảng, đã xuất bản trong Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 2 (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr. 104-117).
4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 2, sđd, tr. 112-113.
5. Bản chỉ thị này lưu tại Kho Lưu trữ Trung ương Đảng, đã được xuất bản trong Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 8 (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 150-155).
6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 118 và 119.
7. Nghị quyết của Ban Trung ương đảng ngày 6, 7, 8 tháng 11 năm 1939, Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 538.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 314-315.
9. Một số hồi ký cách mạng Hà Tĩnh, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Hà Tĩnh xuất bản, 1965, Tập 1, tr 21.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 542.
11. Trung ương Hội nghị lần thứ tám Đảng Cộng sản Đông Dương, tài liệu lưu tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng, đã xuất bản trong Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 113, 114 và 127.10. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 542.
12. Lịch sử khởi nghĩa Nam kỳ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr 103 – 105.
13. Chương trình Việt Minh, tài liệu lưu tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng, đã xuất bản trong Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 150.
14. Viện Lịch sử Đảng: Về phương pháp nghiên cứu, biên soạn và giảng dạy Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Ncb Thông tin Lý luận, Hà Nội, 2008, tr. 51, 53 và 56.
15. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr. VI và VII.

Nguồn: PGS. TS. Phạm Quang Hiển – www.vanthuluutru.com

Leave a Reply