Diễn đàn :: Sử liệu học
Chào mừng Khách   [Đăng ký]  [Đăng nhập]
 Chủ đề :Khái niệm về sử liệu và sử liệu học.. 01-01-2011 14:07:09 
hoainiem_2010
Ngày gia nhập: 31-12-2010 13:56:53
Số bài viết: 78
Đến từ: Thái Nguyên

 

Khái niệm về sử liệu và sử liệu học


Thế giới tồn tại đến ngày nay đã trải qua hàng triệu năm. Mọi giá trị về vật chất và tinh thần tồn tại trên hành tinh của chúng ta là tài sản vô cùng quý giá. Việc nghiên cứu để tái tạo lại lịch sử để chúng ta càng hiểu biết sâu sắc hơn, chi tiết hơn các thời kỳ lịch sử của thế giới, của nhân loại. Muốn nghiên cứu được lịch sử, đòi hỏi chúng ta phải nắm được các tri thức lịch sử, các phương pháp mà sử học phải vận dụng để nhận thức lịch sử. Từ rất lâu, việc nghiên cứu lịch sử đã được đặt ra. Tuỳ theo quan niệm của các nhà nghiên cứu mà họ hiểu về sử liệu và sử liệu học cũng khác nhau.


Đối với các nhà sử học, đối tượng nghiên cứu của họ là các sự kiện lịch sử, còn nhà sử liệu học thì phải tìm tài liệu, sử dụng các phương pháp phê phán, sưu tầm theo kinh nghiệm của họ để dựng lại các sự kiện. Người nghiên cứu sử liệu nghiên cứu xem nhà sử học đó làm như thế nào, phương pháp làm ra sao... Tóm lại, nhà sử liệu nghiên cứu các phương pháp làm việc của nhà sử học.
Vậy sử liệu học là gì? Để trả lời câu hỏi này, ta có thể xem xét nghiên cứu định nghĩa của một số nhà nghiên cứu:
- Theo người Nga thì sử liệu học là môn khoa học phụ trợ của sử học. Nó nghiên cứu các phương pháp phê khảo tài liệu lịch sử (phụ trợ - tức nó là một phần của sử học, có sử học thì mới có sử liệu học).
- Theo người Pháp thì sử liệu học là sự phê phán các nguồn (từ tiếng Pháp là "critique des sources").
- Ở Việt Nam, sử liệu học được coi là môn khoa học phụ trợ của sử học, nó nghiên cứu các phương pháp phân loại, sưu tầm và phê phán sử liệu.
Còn sử liệu là gì?
- Theo nhà nghiên cứu người Pháp Lăng-gloa và Sây-nhô-bốt thì: Sử liệu là những dấu vết do tư tưởng và hành động của con người từ quá khứ để lại. Là mọi sáng tạo vật chất và tinh thần do con người làm ra còn sót lại đến ngày nay (cụ thể như các công trình kiến trúc, y phục, dụng cụ... là vật chất).
Ví dụ: công trình kim tự tháp ở Ai Cập là một đối tượng sử liệu của ngành xây dựng nếu người ta nghiên cứu về một vấn đề nào đó liên quan đến nó. Còn về tinh thần, đó là người ta nghiên cứu trên khía cạnh tư tưởng, tôn giáo, tín ngưỡng của con người thời bấy giờ khi xây dựng nên kim tự tháp.
- Theo nhà nghiên cứu E. Béc-hem người Đức thì: Sử liệu là những kết quả của những hành động của con người. Những kết quả này hoặc là từ một ý đồ có trước, hoặc là từ bản thân sự tồn tại, sự hình thành hay những hoàn cảnh khác, đặc biệt nó có ích cho nhận thức và kiểm tra các sự kiện lịch sử. Sử liệu như là tưu liệu, từ đó khoa học lịch sử khai thác và rút ra những nhận thức của mình.
Từ khái niệm trên ta thấy, E. Béc-hem cũng nói về vật chất và tinh thần như 2 nhà sử học Pháp. Trong KN của Béc-hem còn thêm giá trị ích lợi của sử liệu, giúp các nhà khoa học có cơ sở nhận thức và kiểm tra các sự kiện, xem nhận thức của mình đã đúng hay chưa. Do đó ta có thể thấy, KN của 2 học giả người Pháp chỉ là 1 vế, còn của Béc-hem đã đủ 2 vế, đã đưa ra được vế thứ 2 là cái gì còn sót lại để nhận thức được quá khứ.
- Đến giữa thế kỷ XX, nhà sử học người Ba Lan Tô-pôn-ski định nghĩa như sau: Sử liệu là moi nguồn gốc của nhận thức lịch sử (trực tiếp và gián tiếp), tức là mọi thông tin về quá khứ xã hội, bất kỳ chúng nằm ở đâu, cùng với những gì mà chúng truyền đạt bằng kênh thông tin.
Về nguồn gốc: là đã bao gồm vật chất và tinh thần, trong khu vực địa lý và hoàn cảnh tự nhiên nhất định.
Về thông tin và kênh thông tin: Đây là khái niệm mới, chỉ có từ thế kỷ XX người ta mới dùng thuật ngữ này. Thông tin là các dữ liệu của sự kiện, kênh thông tin là bằng cách nào đó thông tin đến được với con người (như giấy, báo chí, tiếng nói; ví dụ như tờ báo là kênh thông tin, còn các sự kiện mà báo nêu là thông tin).
Về trực tiếp và gián tiếp: Trực tiếp là những cái gì còn sót lại (về vật chất), gián tiếp là những cái gì được ghi lại, chép lại, ghi hình lại...
Như vậy, định nghĩa của Tô-pôn-ski đầy đủ hơn so với các nhà sử học khác. Đó là sự tác động của môi trường sống của con người, môi trường tự nhiên ảnh hưởng tới lối sống của từng vùng, từng miền, con người luôn luôn lệ thuộc vào thiên nhiên từ xưa tới nay... Ông gộp vấn đề này vào ĐN vì nó không không thuộc con người sáng tạo ra nó.

TS. Nguyễn Lệ Nhung

www.vanthuluutru.com

Đã ghi lại IP
Sửa lần cuối lúc: 15-05-2011 18:17:15 Sửa lần cuối bởi rabinka Lý do lần chỉnh sửa cuối sửa lỗi đánh máy
www.xudoai.com
www.top123.vn/forum
 Chủ đề :Cách phân loại sử liệu có tính phương pháp luận và nh.. 23-01-2015 07:40:09 
văn thư lưu trữ
Ngày gia nhập: 08-05-2011 14:55:24
Số bài viết: 151
Đến từ: Cầu Giấy - Hà Nội
Chủ đề :Cách phân loại sử liệu có tính phương pháp luận và nhận thức luận

Cách phân loại sử liệu có tính phương pháp luận và nhận thức luận

Mỗi một ngành khoa học người ta có những phương pháp riêng để nghiên cứu về nó. Ngành sử học cũng vậy, cũng phải có phương pháp riêng để nghiên cứu đối tượng của mình. Các phương pháp đó được tổng kết lại để nhà nghiên cứu có cơ sở xem xét, đánh giá nguồn sử liệu khi nghiên cứu một công trình lịch sử, do đó sử liệu học ra đời.

Từ thời trung cổ, ở Châu Âu người ta đã đặt ra nhiệm vụ phân loại sử liệu, nhưng phải đến thế kỷ XIX các nhà nghiên cứu mới đưa ra được cách phân loại đầu tiên hoàn chỉnh về nó.

- Nhà sử học Ba Lan Lê-lê-oen đã tạm phân sử liệu thành 3 loại:

+ Các sử liệu truyền thống

+ Các sử liệu không được viết ra

+ Các sử liệu thành văn

- Năm 1908, nhà sử học Đức Béc-hem lại có cách chia tài liệu thành 2 nhóm:

+ Di tích: là những vết tích, những bộ phận còn sót lại của các hiện tượng, các sự kiện lịch sử (VD: Xác máy bay B52 Mỹ bị bắn rơi tại làng Ngọc Hà-HN, hầm chỉ huy Đờ-cát ở ĐBP, cột cờ Vĩnh Linh, Kim tự tháp Ai Cập, các hiện vật ở bảo tàng như trống đồng, thạp đồng, bát đĩa; các cuốn hồi ký, truyện ký... đều được xếp vào loại di tích). Như vậy, tất cả mọi dấu vết vật chất (thành văn hay không thành văn) của quá khứ XH đều được xếp vào loại sử liệu di tích.

+ Loại truyền thống: là loại sử liệu thông báo lại các sự kiện, hiện tượng lịch sử thông qua người thông tin (VD: như những bộ biên niên sử, những cuốn hồi ký hay bất kỳ thông tin nào có tính mục đích đều được xếp vào nhóm này).

- Năm 1928, Hen-đen-sman người Ba Lan cũng dựa vào cách phân loại của Béc-hem để đưa ra cách phân loại của mình. Ông chia sử liệu thành 2 loại:

+ Sử liệu trực tiếp: là loại phản ánh trực tiếp các sự kiện, thuộc về sự kiện;

+ Sử liệu gián tiếp: là những tài liệu ghi lại, chép lại, nhớ lại những gì đã qua với mục đích truyền đạt thông tin;

Cách phân loại này của Hen-đen-sman rất có ý nghĩa về mặt phương pháp luận:

- Loại sử liệu trực tiếp:

+ Cho ta nhận thức trực tiếp

+ Không có trung gian của người thông tin (vì nó là bản thân sự kiện, là một mảnh của sự kiện, phản ánh trực tiếp sự kiện).

+ Người ta chỉ phải nghiên cứu tính xác thực của sự kiện mà không phải nghiên cứu độ tin cậy của thông tin.

- Loại sử liệu gián tiếp:

+ Cho ta nhận thức gián tiếp (thông qua ai đó hoặc một kênh thông tin nào đó)

+ Có sự trung gian của người thông tin (nó không phải là bản thân sự kiện, không là một mảnh của sự kiện và nó chỉ được phản ánh qua ghi lại, chép lại, kể lại...)

+ Khi nghiên cứu loại sử liệu này, ta phải nghiên cứu tính xác thực của sử liệu và độ tin cậy của thông tin.

Dựa vào những cách phân loại trên, ngày nay, chúng ta chấp nhận cách phân loại sử liệu thành hai loại tổng quát nhất: Thành văn và không thành văn.

- Loại sử liệu thành văn người ta có thể chia thành 2 nhóm: Sử liệu trực tiếp và sử liệu gián tiếp.

+ Loại sử liệu trực tiếp cho chúng ta thông tin trực tiếp, có định hướng (VD: các hiệp định, bộ luật...)

+ Loại sử liệu gián tiếp, cho chúng ta thông tin gián tiếp, không có định hướng (VD: các cuốn sử ký, hồi ký... được chép lại, nghe người khác kể lại)

- Loại sử liệu không thành văn, người ta cũng chia ra làm 2 nhóm: Sử liệu trực tiếp và sử liệu gián tiếp:

+ Loại sử liệu trực tiếp cho chúng ta thông tin trực tiếp về sự kiện, có định hướng (VD: các cổ vật, mũi tên đồng...)

+ Loại sử liệu gián tiếp, cho chúng ta thông tin gián tiếp, không có định hướng (VD: các câu chuyện cổ tích, tín ngưỡng, tôn giáo...).

Một chú ý chung là trong một số trường hợp không thể tuyệt đối cách hệ thống phân loại trên. Bởi vì một sử liệu có thể xếp vào nhiều nhóm khác nhau tuỳ thuộc vào đề tài của người nghiên cứu. Có những vấn đề, nếu nghiên cứu vấn đề A thì nó là nguồn trực tiếp, còn nếu nghiên cứu vấn đề B thì nó lại là sử liệu gián tiếp (VD: Những tấm bia đá ở Văn miếu Quốc Tử Giám nếu nghiên cứu về các danh nhân tiến sĩ Việt Nam thời PK thì nó là nguồn sử liệu gián tiếp; còn nếu nghiên cứu về nghề tạc đá cổ truyền thì nó lại là nguồn sử liệu trực tiếp...).

www.vanthuluutru.com

TS. Nguyễn Lệ Nhung

Đã ghi lại IP
www.vănthưlưutrữ.vn
www.cadao.org
 Chủ đề :Phân loại sử liệu có tính ước lệ.. 23-01-2015 07:42:37 
văn thư lưu trữ
Ngày gia nhập: 08-05-2011 14:55:24
Số bài viết: 151
Đến từ: Cầu Giấy - Hà Nội

Phân loại sử liệu có tính ước lệ

 

Phân loại sử liệu có tính ước lệ được các nhà sử liệu học căn cứ trên hai nguyên tắc:

* Dựa vào hình thức sử liệu (ví dụ: Tất cả các loại văn bản xếp vào loại có chữ viết, trong đó có thể xếp vào nhiều nhóm khác nhau mà không hề hấn gì; hoặc các tài liệu về phim ảnh xếp vào một nhóm; nếu là hiện vật xếp vào một nhóm...). Thực chất đây chỉ dựa vào hình thức của tài liệu.

* Phân loại theo chuyên ngành (ví dụ: Ngành Dân tộc học nghiên cứu gì? Ngành Lưu trữ nghiên cứu gì?...) để phân loại cho phù hợp.

Căn cứ theo hình thức và chuyên ngành người ta phân sử liệu thành sáu nhóm dưới đây:

1. Sử liệu vật thực: Là mọi thứ được sáng tạo ra để phục vụ cuộc sống dưới dạng hiện vật, vật thể mà con người cầm được, sờ thấy. Ví dụ: Các công trình kiến trúc, lăng mộ, các vật dụng, trang phục...

Sử liệu vật thực cho thông tin trực tiếp, vì nó là dấu vết của sự kiện, hiện vật và phục vụ đắc lực cho thời kỳ tiền sử học. Trong xã hội tiền văn minh, khi con người chưa sáng tạo ra chữ viết nên sử liệu vật thực rất quan trọng vì qua nó, từ các nguồn vật dụng để chúng ta thu nhận thông tin, hiểu biết sự sáng tạo của con người.

Trong các công trình nghiên cứu lịch sử từ cổ đại đến hiện đại đều sử dụng rộng rãi nguồn sử liệu vật thực. Cụ thể như vết tích các công trình Hoàng thành Thăng Long với các tầng kiến trúc của các thời kỳ phong kiến vừa phát hiện ở Hà Nội là sử liệu vật thực; những vết đại bác trên thành Hà Nội do thực dân Pháp bắn khi kéo quân ra xâm lược miền Bắc là sử liệu vật thực; ngày nay, sở dĩ chúng ta hình dung được trên những nét chính tình hình kinh tế, văn hoá và xã hội thời đại Hùng Vương, đó là điều chủ yếu của kết quả những cuộc khai quật khảo cổ học đưa lại.... Tóm lại, sử liệu vật thực được khai thác và sử dụng trong tất cả các chuyên ngành của sử học. Khi sử dụng sử liệu vật thực, người ta phải xác định tính xác thực của nó.

2. Sử liệu phim ảnh, ghi âm, ghi hình...

Các loại sử liệu này có thể được xếp chung một nhóm, nhưng người ta cũng có thể chia nhỏ thành các nhóm riêng: Phim, ảnh, ghi âm, ghi hình,....hoặc chia thành từng sự kiện theo diễn biến, thời đại lịch sử... Ví dụ: Các loại phim ảnh, băng, đài... của cuộc kháng chiến chống Pháp thành một nhóm, các loại phim, ảnh, băng đài của cuộc kháng chiến chống Mỹ thành một nhóm... Hoặc người ta cũng có thể chia chúng ra thành từng loại riêng biệt như tài liệu phim vào một nhóm, tài liệu ảnh vào một nhóm, tài liệu ghi âm vào một nhóm... Khi nghiên cứu sử liệu phim ảnh, ghi âm, ghi hình... chúng ta phải lưu ý về sự ra đời của loại hình này (khoảng hơn một trăm năm trước khi con người mới sáng chế ra công cụ chiếu, chụp, ghi âm...), nếu loại này mà được ghi niên đại có trước sự ra đời có nó là phi lô-gíc, là sử liệu giả.

Sử liệu nhóm này rất sinh động và hấp dẫn khi phục vụ con người. Bởi vì, các sự kiện được tái hiện rõ nét, cụ thể, chi tiết (ví dụ như các hình ảnh người, chim, thú, cây cỏ và các kiểu hoa văn trang trí được ghi, khắc, vẽ, chạm, in trên đá, trống đồng, gốm, gỗ là nguồn sử liệu của nhà sử học. Đài Truyền hình Việt Nam vừa công chiếu bộ phim tài liệu về Việt Nam của Rô-măng Các-men, tuy bộ phim này có nhiều chỗ đạo diễn đã dựng lại sự kiện, nhưng một số sự kiện là quay trực tiếp, khi xem chúng ta có thể hình dung lại thời điểm lịch sử đó một cách chi tiết, chân thực).

Điểm yếu của sử liệu nhóm này thể hiện ở chỗ rất khó dùng và bảo quản khi khí hậu luôn thay đổi như ở nước ta và rất khó sử dụng khi năng lực con người có hạn. Nếu sử liệu tranh, ảnh, băng, đĩa... không ghi rõ xuất xứ, địa danh... thì sẽ rất khó cho việc đánh giá tính chân thực của nó. Sử liệu của các bộ phim truyện, tranh, ảnh nghệ thuật... thường không được dùng làm nguồn tài liệu để nghiên cứu về sự kiện lịch sử, mà chỉ có phim tài liệu, tư liệu mới dùng vào việc nghiên cứu, tái hiện sự kiện lịch sử. Phân loại sử liệu phim ảnh, băng đĩa, ghi âm, ghi hình... là sự phân loại theo hình thức.

3. Sử liệu Dân tộc học:

Phân loại sử liệu Dân tộc học là dựa theo sự phân loại theo nội dung chuyên ngành. Dân tộc học nghiên cứu đặc trưng văn hoá tộc người qua các thời kỳ lịch sử khác nhau để chỉ ra được tộc người này khác tộc người kia về văn hoá.Ví dụ: Sự phân biệt về con người, môi trường sống và phong tục tập quán của người kinh, người Hán, người Mường...

Sử liệu dân tộc học được phân thành hai loại tập hợp: Tập hợp thứ nhất phản ánh sinh hoạt văn hoá là phong tục tập quán từ quá khứ. Tập hợp thứ hai nói lên trình độ kinh tế, văn hoá và xã hội thời hiện tại để xem hiện thực phát sinh cái gì, cái gì còn tồn tại của quá khứ và có sự thay đổi thế nào qua các thời kỳ lịch sử. Sự phân loại thành dân tộc học lịch sử và dân tộc học hiện đại chính là vì ý nghĩa đó. Ví dụ: Các nghi thức trong tang lễ, hôn nhân, thờ cúng tổ tiên của tộc người Kinh, người Thái, người Phương Đông, người Phương Tây...

Sử liệu dân tộc học nghiên cứu đặc trưng văn hóa các tộc người trong các thời kỳ lịch sử xem nguồn gốc, đặc điểm và sự khác nhau về văn hóa giữa các tộc người để phân biệt chữ viết, thành quả lao động, sáng chế công cụ sản xuất. Ví dụ: Y phục và cấu trúc nhà ở của các tộc người Kinh; Thái....

Nếu khảo cổ học giới hiện sự nghiên cứu của nó trong khung niên đại tiền sử, còn các xã hội văn minh (với sự xuất hiện của văn tự) là phần được sử học quan tâm, thì dân tộc học không tự giới hạn việc nghiên cứu. Vì thế, nguồn sử liệu của dân tộc học rất phong phú. Nó gồm tất cả các loại sử liệu được phân loại theo các nhóm sử liệu cụ thể, nhóm này giúp người nghiên cứu lý giải các vấn đề của dân tộc học.

4. Sử liệu ngôn ngữ học:

Ngôn ngữ được con người sáng tạo trong quá trình lao động, luôn phát triển và biến chuyển. Do đó, đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ mang dấu ấn thời đại. Ngôn ngữ ngày càng có nhiều từ, nhiều nghĩa phản ánh phong phú và đa dạng Ví dụ: "Đạo tặc": chỉ cướp trên cạn (khi có sự lưu thông, đi lại bằng đường bộ); "Thuỷ tặc" (hải tặc): chỉ cướp biển (khi có sự đi lại bằng đường thuỷ); "Không tặc": chỉ cướp trên máy bay (từ không tặc xuất hiện phải từ sau ngày 17/12/1903, khi chiếc máy bay đầu tiên xuất hiện trên bầu trời). "Tin tặc": chỉ những người chuyên đột nhập, đánh cắp thông tin trên mạng vi tính - xuất hiện sau ngày máy tính được sử dụng rộng rãi...

Sử liệu luôn nghiên cứu sự phát triển, biến đổi của ngôn ngữ, ngôn ngữ ra đời mang dấu ấn của thời đại và phản ánh lịch sử của thời đại đó. Ngôn ngữ Việt Nam xuất hiện nhiều từ tiếng Hán, Anh, Pháp, Mỹ... là do các cuộc xâm lược, kéo theo sự du nhập về văn hoá. Trong cùng một đất nước cũng có nhiều loại ngôn ngữ khác nhau; thậm chí cùng một tộc người cũng có sự khác nhau về âm tiết do một số người di chuyển xuống đồng bằng Bắc bộ hay các tỉnh phía Nam dẫn đến sự biến chuyển khác đi về ngôn ngữ và giọng nói. Ví dụ: Miền Bắc gọi bát ăn cơm, còn miền Nam gọi là chén, hay khái niệm "bầu" và "bí", "cào cào" và "châu chấu"... giữa các vùng, các miền cũng có sự khác nhau. Cách dùng từ của từng thời kỳ lịch sử cũng khác nhau, thậm chí trải qua thời gian dài nó có thể mang một nghĩa khác. Trong đời sống xã hội, luôn luôn xuất hiện những thuật ngữ, khái niệm mới, do đó nó phản ánh dấu ấn của thời đại, giúp ta nhận thức quá khứ diễn ra thế nào.

5. Sử liệu truyền miệng:

Trong sinh hoạt xã hội luôn có sử liệu truyền miệng, khởi phát lịch sử truyền miệng chớm nở vào thời kỳ tiền văn minh, khi chữ viết chưa ra đời. Loại sử liệu này chủ yếu là các câu chuyện thần thoại, truyền thuyết, sử thi, dân ca, hò, vè... phản ánh sự sinh hoạt trong xã hội. Nếu trong xã hội mà thông tin nhiều chiều, sinh hoạt tự do, bình đẳng thì truyền miệng ít, còn cuộc sống bất công, vô lý... sẽ dẫn đến truyền miệng nhiều. Sử liệu truyền miệng dựng lại không khí, quang cảnh một thời kỳ lịch sử và bản tính nhân văn của con người, tộc người trong quá khứ.

Các đặc điểm của truyền miệng: Trước tiên là được truyền từ đời này sang đời khác, nhưng không cố định như ở văn bản. Truyền miệng có cùng một cốt truyện nhưng có nhiều bài văn, câu truyện hàm xúc và những dòng dễ nhớ... Mặt khác, truyền miệng không xác định được tác giả là ai, mặc dù được cá nhân, tập thể làm ra. Nhà sử học không chỉ ra được tác giả mà chỉ nghiên cứu xem cốt truyện ra đời từ đâu, vào thời gian nào, khi chứng minh được mới dùng, còn không chứng minh được thì không dùng, bởi nếu dùng làm sử liệu mà sai sẽ dẫn đến sự sai lầm trong nghiên cứu. Việc xác định thời gian và địa điểm của loại sử liệu này rất phức tạp, nên các nhà sử liệu phải suy luận, phê phán xem trong các thời đại lịch sử xuất hiện các cụm từ lôgich, cốt truyện phản ánh điều gì rồi đối chiếu với các thời đại lịch sử thì mới xác định được (ví dụ: Bầu ơi thương lấy bí cùng; Tuy rằng khác giống, nhưng chung một giàn - cụm từ "tuy", "nhưng" chỉ xuất hiện thời gian gần đây, còn thời vua, chúa phong kiến chưa được dùng, do đó nếu đặt nó vào thời kỳ phong kiến là không đúng)...

6. Sử liệu thành văn:

Sử liệu thành văn xuất hiện gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của chữ viết (khoảng thiên niên kỷ III - TCN). Sử liệu thành văn xuất hiện đầu tiên ở Ai Cập cổ đại và Hy Lạp cổ đại, còn ở Trung Quốc cổ đại xuất hiện chữ viết trên mai Rùa vào năm 1117- TCN và cũng là nguồn sử liệu thành văn của Trung Quốc cổ đại. Sử liệu thành văn cung cấp thông tin rất chi tiết, cụ thể và lưu giữ được lâu nhờ có hệ thống ghi chép từ đời này qua đời khác. Nó cho phép nhà sử học nghiên cứu một cách khách quan và toàn diện nhất loài người. Sử liệu thành văn phản ánh đầy đủ những sự kiện lịch sử diễn ra trong quá khứ một cách sáng tạo và cung cấp nhiều thông tin quý giá để làm tư liệu xây dựng các sự kiện, nhân chứng trong lịch sử.

Sử liệu thành văn có khối lượng lớn nhất, trong đó lại có nhiều loại ở nhiều thời kỳ khác nhau, các loại chữ viết khác nhau như: Quốc ngữ. Hán, Anh, Pháp, Mỹ.... Từ thế kỷ XVI đến nay ở Việt Nam mới dùng chữ Quốc ngữ, chữ Quốc ngữ xuất hiện vào năm 1533 do một giáo sĩ người Pháp vào Việt nam truyền đạo đã sáng tạo ra còn ở các thế kỷ trước chủ yếu dùng chữ Hán, Nôm....

Có bốn đặc điểm của sử liệu thành văn:

- Ra đời, biến chuyển cùng với sự biến chuyển của lịch sử có hình thức được quy định bởi trình độ phát triển ở mỗi thời đại.

- Không phải bao giờ cũng phản ánh khách quan thực tế;

- Là sự tái lọc thông minh sự kiện,

- Bản thân sử liệu chữ viết cũng là một sự kiện.

Để phân loại cụ thể hơn nguồn sử liệu này, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những cách phân loại khác nhau. Thông thường, người ta căn cứ vào nội dung, nguồn gốc, hình thức và thể loại để nhóm sử liệu viết thành những nhóm riêng.

Phân loại sử liệu viết theo nội dung: Sự phân loại này căn cứ vào nội dung của sử liệu. Sử liệu sẽ được tập hợp lại theo từng nội dung khác nhau về lịch sử, kinh tế, tôn giáo, văn hoá, khoa học kỹ thuật... (Ví dụ: Nhóm lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam; nhóm lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam; nhóm lịch sử kinh tế- xã hội Việt nam hiện đại...). Tuy nhiên, sự phân loại sử liệu viết theo nội dung sẽ gây ra lúng túng hoặc tuỳ tiện trong việc tập hợp sử liệu, vì hầu hết các sử liệu không phải chỉ phản ánh một mặt mà là nhiều mặt khác nhau trong thực tế lịch sử (Ví dụ: Bộ luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam phản ánh các mặt: Thiết chế nhà nước, quan hệ xã hội, quan hệ sản xuất, vai trò của kiến trúc thượng tầng và ý thức xã hội...).

Mặt khác, sử liệu thành văn có khối lượng lớn, trong đó có nhiều loại và nhiều thời kỳ khác nhau với các loại chữ viết khác nhau cho nên sử liệu được phân loại theo hình thức và được nhiều người chấp nhận. Các nhà sử học Xô Viết thường áp dụng cách phân loại này khi phân loại lịch sử Liên Xô từ cổ trung đại đến hiện đại.

Ví dụ: Sử liệu chữ Quốc ngữ được phân thành các nhóm sau:

- Báo chí định kỳ;

- Tài liệu thống kê, số liệu thống kê...

- Văn kiện (các chiếu chỉ, luật... của vua chúa thời phong kiến; Các chỉ thị, nghị quyết, quyết định... của Đảng, Nhà nước, các Bộ, Ngành ngày nay...)

- Truyện ngắn, tiểu thuyết, hồi ký...

- Tài liệu cá nhân, gia đình, dòng họ...

Sử liệu thành văn, ngoài hai cách phân loại trên còn 1 số cách phân loại theo nguồn gốc, xuất xứ (Nhà nước, tư nhân), di tích và truyền thống.

Sử liệu viết phản ánh sự kiện là sự tái học thông minh sự kiện, nhưng nó còn là bản thân sự kiện. Mỗi thời kỳ lịch sử tồn tại một nhóm sử liệu riêng mà nội dung và hình thức của chúng được quy định bởi chế độ xã hội, trình độ văn hoá, kỹ thuật in, viết, phong tục truyền thống. Nhà sử học khi nghiên cứu những lĩnh vực cụ thể của mỗi thời đại phải tìm ra cách phân loại thích hợp các sử liệu của giai đoạn mà mình nghiên cứu.

Tóm lại, phân loại sử liệu là một trong những yêu cầu cơ bản đối với người nghiên cứu lịch sử. Trước và trong khi khai thác nguồn sử liệu, người nghiên cứu phải biết phân loại sử liệu theo một kiểu nào đó thích hợp nhất với lĩnh vực mà mình nghiên cứu. Chỉ có phân loại sử liệu một cách khoa học thì việc xử lý và khai thác các thông tin lịch sử từ sử liệu mới đạt kết quả tốt. Có nắm chắc được các nội dung trên thì nhà nghiên cứu mới tập hợp, đưa ra các thông tin về sự kiện một cách chính xác, lô-gíc, phục vụ đắc lực cho việc nghiên cứu của mình.

www.vanthuluutru.com

TS. Nguyễn Lệ Nhung

Đã ghi lại IP
www.vănthưlưutrữ.vn
www.cadao.org
 Chủ đề :Công tác sưu tầm sử liệu.. 23-01-2015 07:44:53 
văn thư lưu trữ
Ngày gia nhập: 08-05-2011 14:55:24
Số bài viết: 151
Đến từ: Cầu Giấy - Hà Nội

Công tác sưu tầm sử liệu

* Công tác sưu tầm sử liệu:

Đối với nhà sử học, sử liệu là tài sản quý giá nhất để nghiên cứu, đánh giá một sự kiện lịch sử, một giai đoạn lịch sử hoặc cả một quá trình lịch sử. Do đó, sử liệu là một phần không thể thiếu trong nghiên cứu lịch sử. Tuy nhiên, không phải ai cũng đánh giá vị trí của sử liệu là sử học, không cần phân tích, phê phán, tự sử liệu nói lên sự kiện và cũng không ai có tài mà dùng trí tưởng tượng xây dựng nên các công trình sử học, mà phải căn cứ vào các sự kiện, các nguồn sử liệu thì mới dựng lên được các công trình sử học.

Ngoài ra, muốn xây dựng được một công trình sử học chính xác, dựng lại các sự kiện chính xác, đòi hỏi người nghiên cứu phải có một tri thức toàn diện, am hiểu các lĩnh vực, các vấn đề liên quan đến công trình nghiên cứu. Nó bao gồm hai bộ phận:

- Tri thức thường ngày: đó là kinh nghiệm ứng xử, vốn hiểu biết, vốn sống... mà các nhà sử học đã trải qua, được cập nhật hàng ngày. Mỗi nhà sử học có vốn kiến thức này không giống nhau.

- Tri thức khoa học: là vốn hiểu biết về khoa học (VD: như tri thức lịch sử thì mọi nhà sử học đều phải có; tri thức của dân tộc và các quốc gia xung quanh và xa hơn nữa là các cộng đồng trên thế giới; tri thức về các bộ môn phụ trợ của sư học như tôn giáo, văn học, nghệ thuật... và các trí thức khoa học khác. Các tri thức trên có thể sâu hoặc nông, nhưng nhà nghiên cứu phải nắm được cốt lõi của vấn đề trong ngành đó. Người nghiên cứu sự kiện phải đọc nhiều tài liệu, nếu nắm bắt chắc các tri thức khác, nó sẽ tạo nên một kiến thức phong phú cho người nghiên cứu sử liệu. Tri thức về phương pháp luận - là lý thuyết về nhận thức mà các nhà khoa học áp dụng nó vào nghiên cứu. Nhà khoa học sẽ gặp khó khăn khi không nắm được các lý thuyết cơ bản về triết học, kinh tế, chính trị, dân tộc... Không phải nhà triết học, kinh tế học... nào cũng có nhận thức đồng nhất, giống nhau, người nghiên cứu sử liệu phải biết chắt lọc để tìm ra cái đúng, cái phù hợp để làm cơ sở xem xét, nghiên cứu sử liệu. Tất cả các tri thức trên giúp nhà nghiên cứu sưu tầm được nhiều sử liệu và tính chân thực của sử liệu. Do đó, trình độ của nhà sử liệu phụ thuộc rất lớn vào tri thức về sử liệu. Các tri thức ngoài sử liệu rất quan trọng, nó giúp cho nhà nghiên cứu xác định được các tài liệu liên quan đến đề tài.

Công tác sưu tầm sử liệu có thể thực hiện dựa vào các yêu cầu của công trình nghiên cứu, do đó người ta có thể chia ra thành lĩnh vực (hay giai đoạn) hoặc đề tài nghiên cứu.

1. Sưu tầm sử liệu dựa vào lĩnh vực (giai đoạn) nghiên cứu:

- Giới hạn được giai đoạn (lĩnh vực) nào phải sưu tầm, khai thác và phân loại sử liệu của giai đoạn đó. Trong đó, mỗi giai đoạn lịch sử bao gồm nhiều lĩnh vực lịch sử; tổng số các lĩnh vực đó là lịch sử xã hội của con người. Nhà sử học có thể nghiên cứu một giai đoạn và có thể nghiên cứu một lĩnh vực trong giai đoạn đó hoặc có thể nghiên cứu nhiều giai đoạn và một hay nhiều lĩnh vực trong những giai đoạn kế tiếp.

VD: khi nghiên cứu về giai đoạn đổi mới của Đảng ta trong thời kỳ mới thì chúng ta phải tập trung sưu tầm những tài liệu từ những năm 1986 trở lại đây khi Đại hội Đảng VI có những quyết sách về cải cách, mở cửa hội nhập với các nước. Hoặc khi nghiên cứu về chiến dịch Điện Biên Phủ thì sưu tầm tài liệu từ những năm tiền kháng chiến của cách mạng Việt Nam (1946) đến mốc chiến thắng Điện Biên Phủ (1954). Hoặc muốn nghiên cứu giai đoạn lịch sử Việt Nam cận đại thì việc sưu tầm sử liệu sẽ phải hướng vào các loại tài liệu của triều đình Huế, các viện bảo tàng, thậm chí cả ở Pháp...

- Trong lĩnh vực (giai đoạn) nghiên cứu, cần lập bảng phân loại sử liệu. Có như vậy mới giúp người nghiên cứu có một cái nhìn chung về các loại sử liệu mà lập kế hoạch sưu tầm và khai thác chúng.

VD: Các nguồn sử liệu lịch sử Việt Nam cận đại (1858-1945) gồm:

+ Các văn kiện của triều đình Huế (tần, dụ, biểu...)

+ TL văn thư các cơ quan nhà nước

+ Các văn kiện của cơ quan chính phủ Pháp và chính quyền thực dân

+ Các tài liệu liên quan khác...

2. Dựa vào đề tài nghiên cứu:

Phương pháp:

- Giới hạn phạm vi thời gian và địa điểm của đề tài để xác định tài liệu.

- Đinh hướng việc tìm tài liệu vào những nơi có tài liệu (VD: nghiên cứu chế độ địa bạ thời Nguyễn thì phải vào các thư viện nghiên cứu các tài liệu của thời Nguyễn, hoặc tới các cơ quan lưu trữ nhà nước có liên quan đến vấn đề này, hoặc thậm chí phải tìm tài liệu ở Pháp vì họ cũng giữ những tài liệu liên quan đến thời kỳ này...).

- Biết dùng thư mục của đồng nghiệp đi trước, vì nó chỉ cho người đi sau biết tài liệu gì, do ai viết, xuất bản năm nào, hiện đang lưu giữ ở đâu... giúp nhà nghiên cứu tiết kiệm được rất nhiều thời gian.

- Biết lập thư mục mới theo yêu cầu đề tài, vì những vấn đề nghiên cứu không bao giờ trùng lặp tuyệt đối với người đi trước, do đó cần tận dụng một số tài liệu phù hợp để nghiên cứu đưa vào đề tài và bổ sung thêm, cộng với số tư liệu sưu tầm được.

Công tác sưu tầm là nặng nhọc nhất và cũng chiếm nhiều thời gian nhất. Có công trình nghiên cứu có thể hàng năm đến vài năm. Công việc tìm và phát hiện sử liệu được tiến hành liên tục trong suốt quá trình nghiên cứu, chứ không phải chỉ ở giai đoạn đầu quá trình đó. Các nhà nghiên cứu có kinh nghiệm chỉ ra rằng, việc phát hiện sử liệu thường mang tính chất phản ứng dây chuyền, từ sử liệu này ta tìm ra sử liệu kia. Ngày nay, trong các thư viện lớn, người ta đã áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý thư mục, số hoá các tài liệu... để tra tìm, đọc trực tiếp trên máy tính, đây là điều kiện rất tốt để tra cứu tài liệu một cách nhanh chóng, tiết kiệm thời gian và vật chất.

www.vanthuluutru.com

TS. Nguyễn Lệ Nhung

Đã ghi lại IP
www.vănthưlưutrữ.vn
www.cadao.org
 Chủ đề :Đọc sử liệu (luật mã).. 23-01-2015 07:49:51 
văn thư lưu trữ
Ngày gia nhập: 08-05-2011 14:55:24
Số bài viết: 151
Đến từ: Cầu Giấy - Hà Nội

Đọc sử liệu (luật mã)

Việc đọc sử liệu có các yêu cầu đặt ra sau:

- Phải có sử liệu, sưu tầm được sử liệu về.

- Phải có được hệ thống luật mã trùng khớp với luật mã của sử liệu (giúp cho người đọc có thể nhận thức được sử liệu)

Muốn đọc được sử liệu, nhà sử học buộc phải quan tâm tới lý thuyết thông tin, đó là các luật mã. Mỗi tài liệu có một mã khác nhau, người nghiên cứu phải nắm được thì mới hiểu được tài liệu (VD: người khi tham gia giao thông phải nắm được Luật giao thông - đó là mã. Hoặc các nhạc sĩ trong dàn nhạc khi chơi nhạc cụ phải nắm được luật thì mới hiểu được người nhạc công chỉ đạo thế nào - đó là mã...).

Mã được dùng để nghiên cứu tài liệu lịch sử hiện nay chủ yếu là chữ viết. Nhưng khó khăn hiện nay là  tài liệu gồm nhiều lĩnh vực khác nhau (như khoa học xã hội, tự nhiên...), mà ngôn ngữ luôn biến đổi (mang dấu ấn thời đại...) mà nhà nghiên cứu không thể dựng lại được các sự kiện đã xảy ra... Cho nên, các nhà nghiên cứu phải hiểu biết, mã của nhà nghiên cứu phải trùng khớp với thông tin nhận được, ngược lại, nó sẽ dẫn đến hiểu sai thông tin. Do đó, nhà nghiên cứu phải làm phong phú thêm tri thức của mình về các lĩnh vực. Có thể nói, trong cùng thời gian, nhưng mỗi người truyền và nhận thông tin cũng đã có sự khác nhau.

Các sử liệu còn tồn tại nhiều nhất ngày nay là các tài liệu chữ viết. Đối với tài liệu chữ viết, có 4 luật mã thông tin cơ bản sau:

- Luật ngôn ngữ dân tộc của người thông tin: Ngôn ngữ nào cũng có tính dân tộc (tộc thuộc) như tiếng Việt có tính dân tộc Việt, tiếng Pháp có tính dân tộc Pháp... Ngôn ngữ nào cũng có ngữ pháp, trong cùng dân tộc tự nhiên người ta tự nhiên hiểu nhau, nếu nói đúng ngữ pháp, đúng ngữ cảnh thì người nghe càng hiểu sâu. Kết cấu ngữ pháp đảm bảo cho việc trao, nhận thông tin chính xác. Nhưng điều quan trọng là ngữ pháp mỗi dân tộc lại khác nhau, do đó đòi hỏi người nghiên cứu phải nắm được nó khi nghiên cứu.

- Luật ngôn ngữ thời đại: là tài liệu viết ở thời đại lịch sử khác nhau có nội dung khác nhau. Nói đến ngôn ngữ thời đại là nói đến các khái niệm hay thuật ngữ của thời đại đó. Vì ngôn ngữ luôn biến đổi không ngừng, cùng một từ ngữ, nhưng ở mỗi giai đoạn nó lại mang các nghĩa khác nhau, có thể xảy ra các trường hợp sau:

+ Từ giữ nguyên, nhưng vật được chỉ thay đổi. VD: chữ "nội các" ở thời Lê-Trịnh người Việt dùng để chỉ cơ quan lưu trữ (nơi lưu trữ của triều đình), chứ không phải chỉ cơ quan Chính phủ như ngày nay. Hoặc từ "hoà bình" thời cụ Nguyễn Trãi dùng để chỉ sự công bằng, bình đẳng xã hội, không có tệ nạn xã hội. Hay ngay trong cùng thời kỳ ngày nay, từ "Bộ Nội vụ" trước dùng để chỉ cơ quan Bộ của ngành công an, nay "Bộ Nội vụ" là một bộ khác...

+ Từ thay đổi nhưng vật được chỉ không thay đổi: VD: thời Trần-Lê (TK12-13, 15-16) từ chỉ tỉnh lị là "lộ" thì nay là "tỉnh", thời Nguyễn là "xứ". Hoặc để chỉ người đứng đầu Chính phủ thì thời Trần là "Thái uý", thời khác là "Tể tướng", ngày nay là "thủ tướng", "chủ tịch HĐBT"; hoặc ngay trong thời đại ngày nay thì "ty" và "sở" là một... Đặc biệt trong các thời kỳ phong kiến nước ta có tục kỵ huý, cho nên khi nghiên cứu các thời kỳ này phải chú ý đến tên riêng của vua chúa để nghiên cứu một địa danh bị thay đổi...

+ Mỗi thời đại khác nhau thì lại sinh ra các KN khác nhau, vì cuộc sống luôn vận động đi lên, xuất hiện nhiều nghề mới, loại người mới... cho nên xuất hiện thêm các khái niệm. VD: "thuỷ tặc", "không tặc", "tin tặc"...

Nói tóm lại, nếu như người đọc sử liệu không nắm được sự biến đổi này sẽ không hiểu được hoặc hiểu sai vấn đề. Cho nên người ta coi luật ngôn ngữ thời đại là một loại khoá mã.

- Luật các chữ viết tắt và các loại ký hiệu: Dân tộc nào, quốc gia nào cũng có sử dụng chữ viết tắt. VD: "xoá mù chữ" thì ta hay dùng tắt là "xoá mù"... Thông thường trong chữ quốc ngữ của ta ngày nay, người ta dùng các chữ đều tiên ghép lại với nhau để làm thành từ tắt như UBND, HĐND, QĐ, UB... hoặc là cách viết tắt lược bớt một số chữ như DIHAVINA (đĩa hát...), VINATABA (thuốc lá Việt Nam)... nên người đọc sẽ gặp trở ngại nếu không biết được các từ viết tắt đó.

Ngoài ra còn có các loại ký hiệu trong văn bản, nó là loại thông tin phi ngữ nghĩa (không dùng ngữ và nghĩa để nói); phổ biến là trong toán học, hoá học, vật lý...

- Luật tâm lý tác giả: Trạng thái tâm lý của người làm ra văn bản luôn tiềm ẩn trong văn bản. Có những người nói thẳng vào vấn đề, nhưng có những người nói vòng vo, bóng gió... Điển hình là trong văn chương (VD:...). Người nghiên cứu tài liệu phải nghiên cứu cả tư tưởng của người làm ra văn bản thì mới hiểu được người làm ra văn bản nói gì.

Các luật trên chính là tri thức ngoài sử liệu, mà yêu cầu người nghiên cứu phải nắm được thì mới có cơ sở để xem xét tài liệu một cách chính xác.

www.vanthuluutru.com

TS. Nguyễn Lệ Nhung

Đã ghi lại IP
www.vănthưlưutrữ.vn
www.cadao.org
 Chủ đề :Phê phán tính xác thực (phê phán bên ngoài) của sử liệ.. 23-01-2015 07:59:43 
văn thư lưu trữ
Ngày gia nhập: 08-05-2011 14:55:24
Số bài viết: 151
Đến từ: Cầu Giấy - Hà Nội
Chủ đề :Phê phán tính xác thực (phê phán bên ngoài) của sử liệu

Phê phán tính xác thực (phê phán bên ngoài) của sử liệu

Một câu hỏi đặt ra với việc phê phán bên ngoài của tài liệu là có xác thực hay không. Người ta chia ra thành 5 câu hỏi nhỏ - đó chính là 5 nội dung của công tác phê phán bên ngoài):

1. Niên đại và địa điểm tạo thành sử liệu (phê phán tính xác thực 1):

Có nhiều loại tài liệu khác nhau khi thu thập:

- Loại tài liệu có ghi niên đại và địa điểm. Vì nhiều lý do khác nhau, cho nên có thể phải đặt ra câu hỏi về tính xác thực của tài liệu do con người vì một mục đích nào đó đã ghi sai niên đại và địa điểm. Cho nên, các nhà sử học vẫn đặt vấn đề để chứng minh tài liệu đó: tài liệu có thể đúng và cũng có thể sai.

- Loại tài liệu không ghi (không có) niên đại và địa điểm. Có 2 trường hợp: Tác giả có ghi nhưng đã bị mất mát do bảo quản không tốt... do đó cũng là loại không có niên đại và địa điểm (VD như mất trang có ghi niên đại và địa điểm); trường hợp thứ 2 là tài liệu không ghi niên đại và địa điểm.

Việc xác định niên đại chính xác của tài liệu là một trong những tiêu chí đảm bảo tính xác thực của tài liệu. Nhưng các nhà nghiên cứu đưa ra các quan niệm về niên đại cũng khác nhau.

- Niên đại tuyệt đối: VD như đưa ra ngày sinh là năm (lấy đây là niên đại tuyệt đối) hoặc chứng minh một sự kiện xảy ra ở năm nào đó... là tuyệt đối. Nhưng cũng có thể để chỉ một chế độ nào hình thành trong khoảng thời gian nào đó (có thể 10, 20 hoặc một vài thế kỷ) thì vẫn được coi là niên đại tuyệt đối.

- Niên đại tương đối: VD: chứng minh một nhân vật lịch sử mà năm sinh và năm mất ở trong khoảng nào đó (VD nhân vật A 1725-1780 hoặc 1790) nếu khoảng cách càng xa thì thì tài liệu càng không có giá trị.

Nếu là sử liệu trực tiếp thì niên đại và địa điểm tạo thành tài liệu chính là niên đại và địa điểm của sự kiện (VD: vết viên đạn đại bác ở thành Hà Nội là trùng với sự kiện Pháp đánh thành HN - vì nó cũng chính là sử liệu trực tiếp). Lưu ý có những loại tài liệu do người ta hồi tưởng lại thì niên đại tài liệu có thể không trùng với sự kiện.

Để chứng minh niên đại và địa điểm, các nhà sử học sẽ tiến hành các công việc sau:

- Phê phán niên đại:

+ Dựa vào hình thức (vẻ bên ngoài) để chứng minh. Hình thức gồm nhiều thứ như chất liệu (giấy, đá, đồng, gỗ, tre...), kiểu chữ viết (ngôn ngữ), cách hành văn, tên các chức vụ, đơn vị hành chính, tên các địa danh... (VD: nếu văn bản ghi niên đại TK 18-19 lại được in cả ảnh bằng công nghệ ốp-xét thì không có tính hợp lý). Đây là một mã khá, dựa vào đây các nhà nghiên cứu có thể đưa ra các câu hỏi và chứng minh chúng. Hoặc một ví dụ: sách Lĩnh nam chính quái có nói Thôi Lượng - người Việt làm ngự sử đại phu thời nhà Tần, ông có bài thơ "Gò giếng Việt", nhưng bài thơ này lại chép là thơ Đường thì thật là phi lý...

+ Dựa vào tên các đơn vị hành chính hoặc các chức vụ (VD xứ ngày xưa và tỉnh ngày nay), qua các thời kỳ thì các đơn vị hành chính, các chức vụ cũng thay đổi do có thể được sáp nhập hay chia tách hoặc mất đi (VD: tỉnh Cầu Đơ được gọi 1902-1906, là TX Hà Đông ngày nay; hoặc tên nước ta từ 1976 về trước là VNDCCH, nay là...). Dựa vào các chức vụ thì ta phải phân biệt được từng thời kỳ tương ứng với nó là các chức vụ...

Đặc biệt, phần lớn các tài liệu chữ viết hiện nay là các bản sao các văn bản chữ Hán-Nôm, do đó cũng cần chứng minh bản sao hoặc gốc được làm ra từ niên đại nào. Đối với loại tài liệu này, người ta còn dùng các kị huý để xác định niên đại tài liệu (tục kị huý xuất hiện từ thời Lý gồm kị huý nhân danh và kị huý địa danh - tên người, tên địa danh trùng với tên vua chúa phải đổi). Loại tài liệu này có thể xác định được niên đại qua từng thời kỳ các ông vua giữ ngôi.

+ Dựa vào nội dung để phê phán tài liệu: Đọc thông tin trong tài liệu xem liên quan đến sự kiện nào đã xảy ra ở đâu (VD: các nhà sử học Việt Nam đã dựa vào nội dung tài liệu để chứng minh niên đại của "Hịch tướng sĩ" của Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn, nếu không dựa vào nội dung thì chỉ xác định được niên đại tương đối là trong khoảng thời gian có 3 cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông của dân tộc ta. Nhưng dựa vào đoạn văn có nói đến chức Vân Nam vương thì chức đó là tước phong của Hốt Kha Xích (con Hốt Tất Liệt) vào năm 1267 và chức này chỉ tồn tại tới năm 1284 thì được thay bằng chức khác. Vì thế, có thể lý giải niên đại Hịch tướng sĩ phải được viết liền trước cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông lần thứ 2 (cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông lần thứ 2 diễn ra trong khoảng từ 1/1285-7/1285).

+ Dựa vào tài liệu liên quan để phê phán tài liệu: Trường hợp này thông thường là những tài liệu chỉ còn tên trong thư mục mà không còn bản chính hoặc bản sao (VD: như trong tập hợp các bài báo mà Hồ Chí Minh viết ra như "Nhật ký chìm tàu", "Con rồng tre"... Các văn bản này hiện không còn bản chính, mà nhà nghiên cứu lại rất cần sự kiện này. Do đó, phải dựa vào địa điểm để viết tài liệu với niên đại khoảng từ 1911-1923. Do đó, muốn thu hẹp khoảng thời gian này, phải dựa vào các sự kiện ở Pháp lúc bấy giờ: Sự kiện mốc sớm là việc Pháp mời vua Việt Nam sang thăm và mốc muộn là thông tin trong tờ "Văn nghệ Paris" có đăng tin về việc trình diễn vở kịch "Con rồng tre".

- Phê phán địa điểm:

Phải xác định địa điểm, vì nó nói lên tính chân thực của tài liệu. Người ta dùng những gì để chứng minh niên đại thì cũng dùng như vậy để chứng minh địa điểm. Tuỳ thuộc vào mức độ cần thiết của đề tài nghiên cứu rộng hay hẹp mà người ta đặt vấn đề để xác định địa điểm khác nhau để tránh sự trùng hợp. Thường người ta thấy xác định địa điểm khó khăn hơn xác định niên đại vì các lý do sau:

+ Do sự thiên di của tài liệu.

+ Do sự thiên di của tác giả tài liệu (một tài liệu có thể được viết ở nhiều nơi theo chân tác giả, mà mỗi vùng, miền có cách dùng từ khác nhau, do đó đây cũng là một trở ngại).

+ Các thủ pháp nghệ thuật mà người làm ra tài liệu sử dụng (VD: Nhà văn Đoàn Giỏi chuyên viết truyện về thiếu nhi, nhưng khi viết "Đất rừng phương Nam", ông lại dùng thủ pháp nghệ thuật để tác phẩm được địa phương hoá cho đúng chất Nam Bộ). Ở đây cũng cần chú ý, các bài thơ, tranh... nói về các địa danh thì chưa chắc nó đã được viết hay vẽ ở nơi đó...

2. Thật khi nghiên cứu A và giả khi nghiên cứu B (phê phán tính xác thực 2):

VD: Trong thư mục sách Việt Nam thì Trần Hưng Đạo có viết "Binh thư yếu lược", và ông là tác giả cuốn sách này. Bộ sách này đã bị thất truyền (đã được Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú xác nhận không còn nữa). Nhưng vào thời Nguyễn lại cho dịch "Binh thư yếu lược", do đó bản dịch này là không thực. Nội dung của nó lại hoàn toàn nói về thời của Trần Hưng Đạo, nhưng một số sự kiện lại có sau khi Trần Hưng Đạo đã mất... Thực chất đây là sách của những người đương thời, họ muốn lấy đây làm vũ khí để chống xâm lăng mà dựng nên... Do đó, nếu dùng để nghiên cứu về tư tưởng của Trần Hưng Đạo thì sai, còn nếu dùng để nghiên cứu về các cuộc chống xâm lăng thì đúng; do đó phải xác định được thật khi nghiên cứu về vấn đề này nhưng lại giả khi nghiên cứu về vấn đề khác.

3. Giả toàn bộ hay giả bộ phận (phê phán tính xác thực 3):

VD: Các loại văn bằng bị kẻ xấu làm giả từ A-Z như chữ ký giả, dấu giả; nhưng cũng có loại chữ ký thật, dấu thật (hình thức là thật) nhưng người nhận nó lại không thật (VD: không học mà có bằng - tức là mua bằng)... cho nên nhà nghiên cứu phải chứng minh được vấn đề này.

Hoặc một VD khác: Bản di chúc của Hồ Chủ tịch: Nếu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh thì phải dùng bản mà Hồ Chủ tịch viết trực tiếp, sửa chữa; vì qua các lần sửa chữa, ta mới thấy toát lên được tư tưởng của Người. Còn nếu dùng bản đã công bố như hiện nay thì khó có thể nghiên cứu chính xác, do đó, nếu có bản gốc thì mới so sánh được độ lệch của tài liệu.

Hoặc VD về ngày mất của Hồ Chủ tịch là 2/9 hay 3/9/1969... chính thức là ngày nào, người ta lấy các mốc trên nhằm mục đích gì?... do đó phải nghiên cứu kỹ...

Từ những ví dụ trên cho ta thấy, các nhà nghiên cứu phải biết được phần nào giả, phần nào thật. Đối với tài liệu có thể chia làm 2 loại:

- Bản gốc (hoặc được coi là bản gốc): Muốn chứng minh, người ta phải làm các công việc sau:

+ So sánh tự dạng (chữ viết, dạng viết...) - đây là phần hình thức.

+ Dựa vào nội dung (xem thông tin nào mâu thuẫn với thời đại hay không, đặc biệt là các tư tưởng, tập quán... vì nó mang đậm dấu ấn thời đại). VD: Một tài liệu được ghi là viết vào năm 1970 mà lại nói đến Điện Biên Phủ trên không là không thực...

- Trường hợp bản sao: Phần lớn tài liệu lịch sử của Việt Nam và thế giới là những bản sao, nhất là những tài liệu càng xa ngày nay. Khi sao chép, có thể làm sai lệch dù cố tình hay vô tình. Bằng cách chứng minh là dựa vào kỹ thuật viết, in (hình thức)... để xác định niên đại bản sao. Còn muốn chứng minh tính xác thực thì phải dựa vào nội dung tài liệu đề cập (VD: Phong cách viết của tác giả có đúng thế không? Cấu trúc ngữ pháp, các sự kiện được nêu trong bản sao có phù hợp thời đại ấy hay không? Các phong tục, tập quán đề cập trong tài liệu có phù hợp không?... Ở đây có 2 chú ý là chỉ ra tính chân thực tài liệu dựa trên hình thứcnội dung tài liệu; hai nội dung này luôn xuyên suốt trong quá trình xem xét, nghiên cứu để chứng minh tài liệu lịch sử.

4. So sánh bản sao (phê phán bản sao):

Có tình trạng chung là tài liệu chỉ có 1 bản gốc và có quá nhiều bản sao, và được sao chép nhiều lần qua nhiều thời đại, cộng với một thực tế là bản gốc không còn. Nhiệm vụ đặt ra cho nhà nghiên cứu là phải chứng minh được bản sao nào là xác thực.

Thông thường, khi nghiên cứu bản sao, người ta thường nghiên cứu các sai lầm trong khi sao chép, có các sai lầm sau:

- Sai lầm vô ý thức khi sao chép (có thể do học vấn "chữ tác thành chữ tộ", hoặc các lỗi lầm khi sao chép hoặc do sự mệt mỏi và nhiều nguyên nhân khác... Đây là loại sai lầm mà người sao chép không có chủ định và cũng không mong muốn.

- Sai lầm có ý thức: Người sao chép có ý thức được về sự thay đổi bản sao (tựa như nhà biên tập, biên dịch... để áp đặt tính chủ quan của mình vào tài liệu). Bản sao đó là dị bản, do đó phải xem xét các dị bản xem cái nào là chân thực, đúng với bản gốc. Các bản sao này thông thường có sự sai lệch về nội dung, thậm chí chỉ thêm hay bớt một từ là đã có nghĩa khác nhau.

- Sai lầm do hiểu lại: Là loại sai lầm không phải do vô ý thức mà cũng không phải do có ý thức. Cần chú ý rằng, các sai lầm trong nhiều bản sao có mối liên hệ với nhau. Khi so sánh bản sao, người ta lập bảng cho từng bản sao, sau đó đọc từng bản sao, so sánh, tìm ra dị văn (sự khác biệt trong văn bản). Đối với loại tài liệu bằng chữ Hán, người ta cũng lập bảng, nhưng là bảng ngang, sau đó lấy một bản gọi là bản trục, các bản còn lại xoay quanh bản trục đó để so sánh, tìm ra dị văn. Sau khi so sánh, người ta tiến hành nghiên cứu, phân tích dị văn theo nguyên tắc, dị văn nào càng khó hiểu hơn thì niên đại TL càng xa ngày nay (VD: các từ cổ "la đá" - "bia đá" - "là đá"; "tác già" - "tuổi già"... thì ta có thể thấy, từ "la đá", "tác già" khó hiểu hơn, do đó có thể khẳng định là nó xưa hơn.

Một điểm cần chú ý khi nghiên cứu bản sao là không phải bản sao nào gần thời đại bản gốc cũng là chính xác; vì cũng có những bản sao hỏng, và nó cứ được sao chép nhiều lần thì ngày càng xa bản gốc.

5. Phê phán tác giả:

- Có những văn bản, tài liệu ghi tên tác giả, còn số khác không ghi, cho dù đã đầy đủ thời gian và địa điểm. Tuỳ theo chủ đề nghiên cứu mà người ta bắt buộc phải chứng minh được ai là tác giả (VD như đê tài nghiên cứu về một danh nhân, tư tưởng của một người...).

- Khi nghiên cứu về tác giả, người ta thường nghiên cứu về phong cách, mỗi người có một lối viết, một cách hành văn khác nhau.

Tóm lại, khi phê phán tính xác thực của tài liệu, có trả lời được 5 câu hỏi trên thì mới chứng minh được tài liệu có xác thực hay không. Có thể căn cứ vào độ nặng, nhẹ của từng câu hỏi mà có thể giảm bớt công sức nhà nghiên cứu và để nhà nghiên cứu tập trung vào những vấn đề trọng tâm, cốt lõi.

www.vanthuluutru.com

TS. Nguyễn Lệ Nhung

Đã ghi lại IP
www.vănthưlưutrữ.vn
www.cadao.org
Trang # 


Powered by ccBoard


Dedicated Cloud Hosting for your business with Joomla ready to go. Launch your online home with CloudAccess.net.